Chủ Nhật, 14 tháng 2, 2016

Vũ khí Đại thừa


Bé Ti thấy mẹ vừa gấp lại cuốn kinh, liền đến bên khoe:
_ Nghe mẹ tụng kinh hằng ngày, con cũng thuộc nằm lòng nữa đấy.
Mẹ Ti ôm con vào lòng xuýt xoa:
_ Ôi, gái cưng của mẹ giỏi quá. Tụng lớn cho mọi người nghe nào!
Bé Ti đằng hắng giọng hét to:
_ Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Hạnh Nguyện Phổ Hiền Bồ-tát, đoạn 57: “Nếu mà xưa kia không có trí tuệ nên tạo năm tội địa ngục Vô gián, nhưng nếu ngày nay tụng đại nguyện vương của đức Phổ Hiền, thì một sát na tiêu diệt tức thì năm tội như vậy” (*)
Mẹ Ti reo lên sung sướng:
_ Ôi, con của mẹ đúng là “pháp khí Đại Thừa”!
Bé Ti trở giọng lạnh lùng:
_ Này, như vậy từ nay tôi có thể giết mẹ, giết cha, giết A-la-hán, làm Phật chảy máu, phá hòa hợp Tăng rồi tụng đại nguyện vương là sạch năm tội Vô gián tức thì, đúng không?
Mẹ Ti té ngửa, miệng xùi bọt mép:
_ Chết mợ! Vũ... khí... đại... thừa...
Bác Tii
--------------------------------
(*) Theo bản dịch của HT Thích Trí Quang 

Thứ Bảy, 13 tháng 2, 2016

"Phật tánh" và ma mãnh



_ Ông ơi, tại sao có người hỏi “Con chó có Phật tánh không?”, thiền sư Triệu Châu lúc trả lời “”, khi khác lại phủ nhận là “không”?

_ Nếu phủ nhận con chó không có Phật tánh, thì trái với ý chỉ “chúng sanh đồng Phật tánh” của kinh Pháp Hoa, và tinh thần vô phân biệt “ta, người, chúng sanh, thọ giả” của kinh Kim Cang. Còn nếu chấp nhận con chó có Phật tánh, thì phỉ báng Đức Thế Tôn và tự xếp mình ngang hàng với thú vật. Nói chung những ai tin vào những kinh văn ngụy tạo đều bị mắc lưỡi câu hai móc của các tổ sư Bà-la-môn giăng bẫy, nuốt vào chẳng đặng mà nhả ra cũng không xong. Nói “có” cũng chết, trả lời “không” cũng tiêu.

_ Trời đất! Mấy luận sư gốc Bà-la-môn ác hiểm vậy sao?

_ Nếu họ hiền như cháu thì Phật giáo đâu đến nỗi phải bị biến mất trên chính thánh địa của mình. Họ phải giả quy y, tự xưng thánh tổ, rồi tung ra các kinh luật luận ngụy tạo thì các con Phật mới tin họ để rồi chết cả đám.

_ Ông ơi, nhưng có thể các đệ tử của tổ sư Triệu Châu vẫn còn ngang bướng chống chế. Họ nói rằng ý của thiền sư là không chấp vào nhị biên, không phải như thế này, không hẳn là như thế kia, cũng không phải là như thế nọ v.v… và v.v…

_ Nếu vậy, đây là lời Phật dành cho họ: “Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn, Bà-la-môn đần độn ngu si. Vị này, vì đần độn ngu si, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác, liền dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn: ... Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế… tất cả những vị này đều bị bao trùm bởi lưới của sáu mươi hai luận chấp này, dầu chúng nhảy vọt lên, chúng vẫn bị hạn cuộc bao phủ ở nơi đây” (Kinh Phạm Võng, Trường Bộ 1). Cháu nên nhớ: đã là tà pháp, tà ngữ thì làm sao thoát khỏi bàn tay của Đức Thế Tôn. Chỉ có xa lìa lời dạy đích thực của Ngài mới chết vì ngu dại mà thôi!

_ Nhưng ông ơi, tiền thân của Đức Thích Ca cũng có khi làm chim anh vũ hay nai chúa.

_ Nếu cháu cứ dễ dãi không biết phân biệt ba cõi, sáu loài, kiếp trước, kiếp này; chẳng lẽ rồi phải đem tất cả súc vật lên bàn thờ cùng với các thánh nhân? Tại sao bây giờ cháu không còn bú bình, bò lăn, trườn xấp như trước nữa?

_ Chuyện ấy xưa rồi, nay cháu đã khôn lớn, phải khác chứ?

_ Cũng vậy, kiếp xa xưa mình như thế nào, không có nghĩa kiếp này cũng phải mang tánh chất như vậy, cũng vẫn phải giống y như vậy. Hơn nữa cháu phải thấy ý nghĩa giáo dục sâu sắc trong các câu chuyện ấy.

_ Ông ơi, cháu hiểu rồi.

_ Thế, theo cháu, con chó có Phật tánh không?

_ Dứt khoát không! Chỉ có ngu hơn “tuất”, mắc mưu kẻ khác mới tin rằng có!

_ Con người có Phật tánh không?

_ Cũng không! Con người có nhân tánh! “Như Lai là Phật đã thành. Các Phật tử là bốn Thánh chúng sẽ thành”. Được như thế thôi là phước tám mươi đời các con Phật rồi. Vô minh tin càn, coi chừng bị té xuống địa ngục!

_ Giỏi lắm! Vậy ai có Phật tánh?

_ Dạ thưa, đương nhiên chỉ có Đức Như Lai Thích Ca Mâu Ni mới có đầy đủ mười đức tánh siêu việt cụ thể của một vị Phật “A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”.

_ Khá lắm! Cháu phải phân biệt rõ như thế mới không mắc bẫy kẻ khác để khỏi bị đọa vào địa ngục vì tội xúc phạm Thánh nhân.

_ Cháu hiểu rõ như vậy rồi, từ nay cháu cũng chẳng thèm phí lời tranh luận với những kẻ cố chấp muốn ngụy biện cho tà kiến của họ.

_ Cháu có nhân tánh rồi đấy!

CHÚNG MỤC KIỀN LIÊN

Thứ Sáu, 12 tháng 2, 2016

Kịch ngắn "Chứng Đại Thừa"


*** Màn một
Tại nhà tù, một tù nhân hỏi cai ngục:
_ Thưa sếp, “NGƯỜI TU CHỨNG NHƯNG KHÔNG THẤY MÌNH TU CHỨNG” nghĩa là sao? 
_ Là những ai không thấy mình tu chứng thì đều… tu chứng chứ sao. Ở đây, tất cả các tù nhân không có ai thấy mình tu chứng, vì thế họ đều chứng đạo cả rồi.
_ Chứng đạo gì, thưa sếp?
_ Đạo tặc chứ còn gì nữa. Cho nên câu ấy phải nói cho rõ “người tu chứng đạo tặc nên không thấy mình tu chứng đạo bạch”, hiểu không?
_ Dạ, hiểu rồi!

*** Màn hai
Dưới U Minh Điện, một tiểu yêu hỏi Ma Vương:
_ Thưa giáo chủ, thế nào là những “người tu chứng nhưng không thấy mình tu chứng”?
_ Thật dễ hiểu! Giống như những kẻ giết mướn nhưng không thấy mình giết mướn, quân trộm cướp nhưng không thấy mình trộm cướp, phường tà dâm nhưng không thấy mình tà dâm... Đến Huệ Năng còn biết: “Chẳng niệm thiện, niệm ác: Bản lai diện mục hiện tiền” kia mà.Làm thiện đừng nghĩ mình thiện, làm ác đừng nghĩ mình ác thì đều chứng đạo như nhau.
_ Nhưng Lục Tổ là...
_ Im! Vô phân biệt!
_ Dạ, rõ rồi.

*** Màn ba
Nơi phòng ngủ, một bé trai hỏi bố:
_ “Người tu chứng nhưng không thấy mình tu chứng” nghĩa là sao, hở bố?
_ Nghĩa là, giống như con, tè dầm nhưng không thấy mình tè dầm, thế thôi!
_ Bố hay thật!

*** Màn bốn
Tại nơi gây ra tai nạn, kẻ say xỉn ra vẻ cao siêu, hỏi cảnh sát:
_ Đại ca, “người tu chứng nhưng không thấy mình tu chứng” là ai?
_ Là đồng môn của ông, những người say rượu nhưng không thấy mình say rượu, chứ còn ai vào đây!
_ zzzzzzzzzzzzzzzz

*** Màn năm
Tại nhà thương điên, một bác sĩ hỏi đồng nghiệp:
_ Này bạn, “người tu chứng nhưng không thấy mình tu chứng” là ai?
_ Là bệnh nhân của ông, những người điên dại nhưng không thấy mình điên dại, chứ còn ai nữa. Ông về hỏi đứa con gái lớp ba của ông xem nó có biết đã học xong lớp một, lớp hai hay chưa?
_ Tất nhiên, nó có điên đâu mà không biết. Hay câu ấy ngụ ý rằng: người tu chứng nhưng không có tự cao, tự tôn, tự đại?
_ Nếu thế phải nói cho rõ. Đằng này bày đặt chơi chữ, bắt chước theo kiểu của bọn trí thức rởm để rồi bị kẻ khác vặn sườn; dứt khoát đó không phải là cách nói của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Ông hãy tìm trong chánh kinh Nikaya chánh gốc xem những lời dạy của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và các Thánh tăng A-la-hán có chỗ nào sơ hở ấu trĩ như thế không?
_ Cậu đúng là bác sĩ trị tâm thần!

*** Màn sáu
Trong lớp học, thầy giáo hướng dẫn:
_ Các em hãy lần lượt nêu các ví dụ tương đương với câu “người tu chứng nhưng không thấy mình tu chứng”.
Các học sinh thay nhau phát biểu:
_ Thưa thầy, giống như “kẻ mê muội nhưng không thấy mình mê muội”.
_ Thưa, ví như “bọn nói láo nhưng không thấy mình nói láo”.
_ Thưa thầy, đó là “người dốt nát nhưng không thấy mình dốt nát”.
_ Dạ thưa, chính là “tên lừa đảo nhưng không thấy mình lừa đảo”.
_ Thưa, đấy là “kẻ phá giới nhưng không thấy mình phá giới”.
_ Dạ, giống những “người đạo đức giả nhưng không thấy mình đạo đức giả”…
Thầy giáo khoát tay:
_ Thôi, bấy nhiêu cũng đủ để thầy cho cả lớp chứng đạo.
Cả lớp:
_ Đạo gì, thưa thầy?
_ Đạo minh, đạo thiện. Vì chỉ có những người tỉnh giác mới biết mình tỉnh giác, còn kẻ ngủ mê mới không biết mình ngủ mê. Cũng vậy, chỉ có người hiền đức mới biết mình hiền nhân và người chứng Thánh đạo mới thấy mình chứng chánh đạo. Ngược lại, chỉ có những kẻ chứng tà đạo mới không thấy mình chứng tà đạo mà thôi.
Một em giơ tay hỏi:
_ Còn những kẻ không chứng Thánh đạo nhưng tự nhận đã tu chứng thì sao, thưa thầy?
_ Thì phải cảnh giác, phán xét kỹ lưỡng, chớ vội cả tin, vì thùng rỗng hay kêu to, hiểu không?
Cả lớp đồng thanh hô vang “Vâng, thưa thầy” và cùng hoan hỷ tín thọ lời thầy giáo dạy.
Màn từ từ hạ…
_________________________________________

Ghi chú:
-- Tiểu Bộ 1, VI. Kinh Châu Báu (Ratana Sutta)

“13. Cao thượng biết cao thượng,
Cho đem lại cao thượng,
Bậc Vô thượng thuyết giảng,
Pháp cao thượng thù thắng”

-- 
Trích Kinh Thanh Tịnh, số 29, Trường Bộ 2:
Đức Thế Tôn dạy cho Tỳ-kheo Cunda:
“Nếu có ai, khi tả một phạm hạnh, thành tựu hết thảy tướng, không thiếu sót, không quá đáng, được khéo tuyên bố một cách viên mãn, vị ấy nếu tuyên bố đúng đắn sẽ tuyên bố như sau: "Phạm hạnh này thành tựu hết thảy tướng, cụ túc hết thảy tướng, không thiếu thốn, không quá đáng, được khéo tuyên bố một cách viên mãn, được khéo trình bày”.
Này Cunda, Uddaka con của Ràma thường nói: "THẤY MÀ KHÔNG THẤY". Thấy cái gì mà không thấy? Với một con dao sắc bén, chỉ thấy lưỡi dao không thấy khía cạnh sắc bén của dao. Này Cunda, đấy là nghĩa của câu: "Thấy mà không thấy". Này Cunda, ở đây Uddaka con của Ràma đề cập đến một vật đê tiện, hạ liệt, thuộc về phàm phu, không xứng bậc Thánh, không có lợi ích, nói về con dao. Này Cunda, nếu nói đúng đắn câu "Thấy mà không thấy", thời phải nói như sau: "Thấy mà không thấy. Vị ấy thấy cái gì mà không thấy?” 
Một phạm hạnh, thành tựu hết thảy tướng, đầy đủ hết thảy tướng, không thiếu sót, không quá đáng, được khéo tuyên bố một cách viên mãn, được khéo trình bày. Chính vị ấy thấy phạm hạnh này. Nếu vị ấytrừ bớt một phương diện nào tại một chỗ nào, nghĩ rằng làm vậy sẽ được rõ ràng hơn, vị ấy sẽ không thấy gì. Nếu vị ấy thêm vào một phương diện nào tại chỗ nào, nghĩ rằng làm vậy sẽ được rõ ràng hơn, vị ấy sẽ không thấy gì. Nếu vị ấy thêm vào một phương diện nào tại chỗ nào, nghĩ rằng làm vậy được viên mãn hơn, vị ấy sẽ không thấy gì. Như vậy gọi là "Thấy mà không thấy”...” (Hết trích)
(Ghi chú: Uddaka nói “thấy mà không thấy” ứng với một vật “đê tiện, hạ liệt, phàm phu” là con dao còn phải trở thành kẻ ngây ngô ngốc nghếch vì chỉ thấy (dao) mà không thấy (lưỡi dao sắc bén), huống hồ là đối với một DIỆU PHÁP DIỆT KHỔ, CỨU KHỔ.
Khốn thay các luận sư Bà-la-môn gián điệp sau này vẫn bắt chước tiền bối Uddaka, thường huênh hoang lớn tiếng “chứng mà không chứng”. Thực ra Uddaka và các Bà-la-môn cải biến sau này đều ngớ ngẩn như nhau, họ chính là những kẻ “(tưởng) thấy mà không thấy”, “(tưởng) chứng mà không chứng”. ĐTV)

-- 
Trích kinh “Những Tuyên Bố về Pháp”,Tăng Chi, 10 Pháp: 
“Bấy giờ có Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda, đang ngồi xuống một bên:
- Này Ananda, phàm những pháp nào đưa đến sự chứng ngộ với thắng trí, các tuyên bố về giáo lý, này Ananda, ở đây, Ta vô úy tự nhận thuyết pháp về chúng, về chúng như thế ấy, như thế ấy khiến cho người nào như vậy, như vậy thực hành; nếu là có, sẽ biết là có; nếu là không có, sẽ biết là không có; nếu là hạ liệt, sẽ biết là hạ liệt; nếu là thù thắng, sẽ biết là thù thắng; nếu là có trên, sẽ biết là có trên; nếu là vô thượng, sẽ biết là vô thượng. Vì rằng, cái gì người ấy có thể biết, có thể thấy, có thể chứng ngộ, người đó sẽ biết được, sẽ thấy được, sẽ chứng ngộ được, sự kiện này có xảy ra. Này Ananda, cái này là vô thượng đối với các trí, chính là như thật trí đối với vấn đề này hay vấn đề khác. Và này Ananda, do vậy Ta tuyên bố rằng ngoài trí này, không có một trí nào khác cao thượng hơn, thù thắng hơn.”…

-- Tuy vậy, Luật Patimokkha, Tội Bất Cộng Trụ (Đứt  Đầu) thứ tư cũng quy định rõ:
“Vị Tỳ-kheo nào chưa chứng tri lại khoe khoang pháp thượng nhân tự thể nhập tương ứng thánh tri kiến, nói rằng: "Tôi biết tôi thấy như vậy", thời gian sau đó dù có bị thẩm vấn hay không bị thẩm vấn, nhưng muốn được trong sạch bèn nói lại như sau: "Thưa chư hiền, tôi không biết như vậy mà tôi nói tôi biết, tôi không thấy mà nói tôi thấy, thành ra nói dối nói láo." Dù thế vị này cũng phạm tội triệt khai bất cộng trụ, trừ phi tăng thượng mạn”. (Nguồn Internet)

Thứ Năm, 11 tháng 2, 2016

Thiền môn cải huấn


Tổ sư Tồng Thiên là một vị thiền sư nổi tiếng trong giới tu thiền. Giờ đây ngài đang mở hội tuyển chọn tài nhân cho chức giáo chủ ngôi tổ đình Tịnh Đà của mình.
Vì dòng thiền Đà Tịnh bấy lâu được các thiền sinh xem như “đệ nhất tối thượng thừa thiền”, cho nên được làm trụ trì thiền tự là ước mơ của rất nhiều vị thiền sư. Bởi thế chẳng ai lấy làm lạ khi thấy số người tham gia ứng thí rất đông, thuộc đủ mọi quốc tịch từ khắp các quốc gia có tu thiền.
Trong số ứng nhân, có một giới tử đến từ phương Nam xa xôi. Tuy tuổi còn rất trẻ nhưng vị giới tử này đã tỏ ra rất đĩnh đạc và tự tin. Lúc nào cậu bé cũng ung dung tự tại cứ như người đã thấu suốt được cái “bản lai diện mục” của các đấng tổ sư. 
Theo quy định của cuộc thi, mỗi thí sinh phải trả lời các câu hỏi theo kiểu công án của vị thiền sư Tồng Thiên. Dựa vào câu trả lời của họ, đại sư sẽ tìm được “pháp khí tông môn”. Cuộc thi đã trải qua nhiều ngày căng thẳng, thế nhưng tất cả các ứng nhân đều không đạt yêu cầu. 
Đến lượt vị giới tử trẻ tuổi đến từ phương Nam dự thí. Mới nhìn thấy kẻ hậu sinh, Thiền sư đã thất vọng tràn trề, cười khì giọng mũi, đầy vẻ khinh thường. Tổ sư lẩm bẩm một mình: “Hừ, oắt con ba tuổi ranh, miệng còn hôi sữa cũng bày đặt đua đòi công án. Đúng là thứ trầm không trệ tịch, tiêu nha bại chủng không tự biết mình. Được, nhân đây ta phải dạy cho bọn nhị thừa chồi khô mộng lép, đi xe con mu rùa này biết thế nào là trí tuệ tối siêu vô phân biệt mới được”.
Nghĩ thế, tổ sư Tồng Thiên không thèm để mắt tới tên tiểu nhi tiểu phái. Ngài ngước mặt nhìn trời nhếch mép cười gằn, bất thần xuất chiêu tung công án:
_ Thế nào là tiếng vỗ của một bàn tay? (*)
Giới tử cung kính:
_ Xin ngài tự tát vào mặt mình sẽ biết!
Vị tổ sư giật mình chột dạ, cố làm vẻ thản nhiên:
_ Con chó có Phật tánh không?
_ Ngài có ma tánh không?
Tổ sư Tồng Thiên mặt đỏ bừng:
_ Bụt là cục kít khô.
_ Vì ngài là con cẩu dại.
Tổ sư Tồng Thiên quát to:
_ Tâm động hay phướn động?
Giới tử lắc đầu:
_ Hỏi gì ngu thế?
Vị Thiền sư không còn bình tĩnh được nữa, chỉ vào giới tử nạt lớn:
_ Đồ tiểu yêu súc sanh vô lễ. Sao ngươi dám xúc phạm ta?
Giới tử chắp tay lễ phép:
_ Bạch ngài, hỏi một câu, khổ đã không hết lại còn bị tức thêm thì khôn ở chỗ nào?
Tổ sư Tồng Thiên rùng mình hoát nhiên đại ngộ. Ngay tức khắc ngài cho kết thúc khóa thi và tuyên bố “giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự” để truyền trao y bát cho vị giới tử trẻ tuổi đến từ phương Nam được kế thừa nghiệp Tổ.
Kể từ đó, sư tổ Tồng Thiên chính thức được vinh thăng làm tổ sư phái thiền Tịnh Đà đời thứ… cuối cùng. Cũng từ đấy ngài ẩn cư giữa chốn rừng sâu một mình, không còn muốn tới lui trong thiên hạ. Tương truyền, sau khi ngài qua đời, chú Cuội vẫn còn thấy ngài quảy chiếc dép cũ rách, bay trên núi Thiết Phong ngao du sơn thủy.

-------------------------------------
Ghi chú:
Câu 1: Công án thiền học nổi tiếng của thiền sư Hakuin: Khi ta vỗ hai tay vào nhau phát ra tiếng kêu, “thế nào là tiếng vỗ của một bàn tay?”.
Câu 2: Có người hỏi, "Con chó có Phật tánh không?". Thiền sư Triệu Châu lúc đáp "Có", lúc đáp "Không"!
Câu 3: Có người hỏi "Thế nào là Phật?". Tổ Lâm Tế đáp: "Cục cứt khô"!
Câu 4: Xem chuyện về lục tổ Huệ Năng
(Ảnh minh họa: Interenet)

Thứ Bảy, 6 tháng 2, 2016

Cúng dường tối thượng


DẪN: Mỗi ngày các chùa đều đang cúng Phật. Mỗi Phật tử cũng siêng năng kính lễ, cúng dường Đức Thế Tôn. Thế nhưng không phải ai cũng biết thế nào là LỄ KÍNH PHẬT TỐI THƯỢNG, CÚNG DƯỜNG THẾ TÔN TỐI THƯỢNG.
Trong bài Kinh Đại Bát Niết Bàn (DN 16), trước lúc nhập diệt Đức Thế Tôn đã di giáo điều này:
Rồi Như Lai nói với tôn giả Ananda:
-- Này Ananda, các cây sala song thọ tự nhiên TRỔ HOA TRÁI MÙA tràn đầy cành lá, những đóa hoa này rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Những THIÊN HOA MANDÀRAVA từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. BỘT TRỜI Chiên đàn từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. NHẠC TRỜI trên hư không trổi dậy để cúng dường Như Lai. THIÊN CA trên hư không vang lên để cúng dường Như Lai.
Nhưng, này Ananda, NHƯ VẬY KHÔNG PHẢI kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường hay lễ kính Như Lai.
Này Ananda, nếu có Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào THÀNH TỰU CHÁNH PHÁP VÀ TÙY PHÁP, SỐNG CHƠN CHÁNH TRONG CHÁNH PHÁP, HÀNH TRÌ ĐÚNG CHÁNH PHÁP, THỜI NGƯỜI ẤY KÍNH TRỌNG, TÔN SÙNG, ĐẢNH LỄ, CÚNG DƯỜNG NHƯ LAI VỚI SỰ CÚNG DƯỜNG TỐI THƯỢNG.
Do vậy, này Ananda, hãy thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp và hành trì ĐÚNG CHÁNH PHÁP. Này Ananda, các Người phải học tập như vậy. (Hết trích)
Ý KIẾN: Thế đấy, theo lời Phật dạy dù đất trời có cúng dường Ngài bằng kỳ hoa dị thảo trái mùa, cùng Thiên hoa Mandàrava, Bột trời Chiên đàn, Thiên ca Nhạc trời, thế nhưng đó vẫn không phải là cúng dường tối thượng Đức Như Lai.
Chỉ có Tăng Ni, cư sĩ nào biết thọ trì, tu tập đúng CHÁNH PHẬT PHÁP, những người ấy mới thực sự “kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng”.
Nhưng thế nào là CHÁNH PHẬT PHÁP? Trong suốt tạng kinh Nikaya và ngay trong kinh Đại Bát Niết Bàn này, Đức Thế Tôn đã nhiều lần khuyến giáo những người con của Ngài:
“Thế Tôn liền đi đến giảng đường và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, nay những Pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy cho các Ngươi, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập và truyền rộng để Phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người. Này các Tỷ-kheo, thế nào là các Pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để cho Phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người? 
Chính là BỐN NIỆM XỨ, BỐN CHÁNH CẦN, BỐN THẦN TÚC, NĂM CĂN, NĂM LỰC, BẢY BỒ-ĐỀ PHẦN, TÁM THÁNH ĐẠO PHẦN. Này các Tỷ-kheo, chính những Pháp này do Ta chứng ngộ và giảng dạy, mà các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để Phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người.
Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, đây là lời Ta nhắn nhủ các Ngươi. Các hành là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát, không lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ.
Ðó là lời Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy, Thiện Thệ lại nói thêm:
Ta đã già, dư mạng chẳng còn bao,
Từ biệt các Ngươi, Ta đi một mình.
TỰ MÌNH LÀM SỞ Y CHO CHÍNH MÌNH,
HÃY TINH TẤN, CHÁNH NIỆM, GIỮ GIỚI LUẬT,
NHIẾP THÚC Ý CHÍ, BẢO HỘ TỰ TÂM.
Ai tinh tấn trong PHÁP VÀ LUẬT này
SẼ DIỆT SANH TỬ, CHẤM DỨT KHỔ ĐAU.”  
(Trích Kinh ‘Đại Bát Niết Bàn’, bản dịch của HT Thích Minh Châu)

Ý KIẾN: Theo chính lời Phật dạy, CHÁNH PHẬT PHÁP của Ngài chính là 37 PHẨM TRỢ ĐẠO, bao gồm Bốn Niệm Xứ, Bốn Chánh Cần, Bốn Thần Túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ Đề Phần, Tám Chánh Đạo.
Các Tăng Ni, cư sĩ đang nghĩ mình là con Phật, đang tu theo Phật hãy tự hỏi mình xem đã biết Đức Thế Tôn dạy về các Pháp này trong chánh kinh gốc như thế nào? Họ đã thọ trì và tu tập 37 PHẨM TRỢ ĐẠO đến đâu để thực sự thấy đúng như lời Phật tuyên bố:
"Pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết, THIẾT THỰC HIỆN TẠI, ĐẾN ĐỂ MÀ THẤY, KHÔNG CÓ THỜI GIAN, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu" (Kinh Nikaya).
Những ai đang tin tưởng và ca ngợi các pháp môn mình đang tu tập, hãy trung thực tự vấn xem có thực sự thấy nó “thiết thực hiện tại, không có thời gian” không? Hay chỉ hoan hỷ bề ngoài, nhưng bên trong càng tu càng thấy mịt mờ, không tiến bộ, tham sân si vẫn hoàn tham sân si?
Xin đừng tự lừa dối mình, lừa dối mọi người, lừa dối Bậc Đạo Sư! Quý vị có thể qua mắt những người không tu, không hiểu đạo, chứ quý vị không qua mắt được Đức Thế Tôn, không qua mắt được nghiệp báo sanh tử khổ đau trước mắt.
Hãy trở về Chánh Đạo với CHÁNH PHẬT PHÁP để tự cứu mình, cứu người, báo đáp ơn sâu của Phật bằng sự KÍNH LỄ VÀ CÚNG DƯỜNG TỐI THƯỢNG.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

(Ảnh Internet)



Thứ Sáu, 5 tháng 2, 2016

Bệnh gián điệp


Tiểu Muội Muội cẩn thận mang mặt nạ phòng chống hơi độc và bao tay tẩy trùng, thận trọng nhấc ống nghe rồi quay số không-không-không-không-có. Từ đầu dây bên kia, có tiếng chuông vang lên và một giọng nói thều thào, ngắt quãng như của một người sắp chết, đang bị đau đớn khổ sở cùng cực.
Tiểu Muội Muội hỏi lớn:
_ A lô! Xin lỗi, cháu nghe không rõ. Ngài có phải là Bồ-tát Duy Ma Quỷ không ạ?
_ T.a… đ.â.y… G.ì… t.h.ế?
_ Cháu được biết trong hàng chục trang kinh mang tên ngài nói rằng tất cả các Thánh A-la-hán Thanh văn hàng đầu của Tiểu thừa đều phải sợ ngài, không một ai dám đến thăm bệnh ngài…
_ P..h…ả..i...
_ Thế nhưng, trong hàng ngàn trang kinh Nguyên thủy, trên hàng vạn dòng, nơi hàng triệu chữ trong đó, không có một chữ nào nói đến tên ngài, không có một dòng nào nhắc đến sự kiện đặc biệt ấy. Vì sao ngài có biết không?
_ V…ì… s…a…o?
_ Vì mọi người sợ không dám đến thăm ngài nên đã không bị lây căn bệnh nguy hiểm.
_ B.ệ.n.h… g.ì?
_ Bệnh gián điệp đại nói láo, phỉ báng các bậc Thánh. Cháu cũng không dám gặp ngài mà chỉ gọi điện thoại thôi. À, mà ngài đang ở đâu đấy?
_ Đ.ị.a… n.g.ụ.c… A… tỳ… Biết rồi, khổ lắm, nói mãi.
Tít…tít…tít…tít…
Tiểu Muội Muội
-------------------
hoặc tại địa chỉ:
http://dieuphapcuukho.blogspot.com/2016/01/hoi-cong-an.html

Thứ Năm, 4 tháng 2, 2016

Thêm một minh chứng cho ngụy kinh cải biến


Những ai còn chưa tin trong Phật giáo có tà kinh ngụy tạo hãy đọc kĩ bài so sánh dưới đây giữa hai bài kinh tương đương thuộc tạng Pali Nguyên Thủy và tạng A Hàm cải biến.
SO SÁNH
Kinh “Không Uế Nhiễm” (Số 5, Trung Bộ Pali)
và Kinh “Uế Phẩm” (Số 87, Trung A Hàm)
* CHÁNH KINH PĀLI: (Trích nguyên văn lời ngài Xá Lợi Phất) “Chư Hiền, ở đây, hạng người có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri: "Nội thân ta có cấu uế". Trong HAI HẠNG NGƯỜI có cấu uế, hạng người này vì vậy được gọi là hạng người hạ liệt.
Chư Hiền, ở đây, hạng người có cấu uế và như thật tuệ tri: "Nội thân ta có cấu uế". Trong HAI HẠNG NGƯỜI có cấu uế, hạng người này vì vậy được gọi là hạng người ưu thắng.
Chư Hiền, ở đây, có hạng người không có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri: "Nội thân ta không có cấu uế". Trong HAI HẠNG NGƯỜI không có cấu uế, hạng người này vì vậy được gọi là hạng người hạ liệt.
Chư Hiền, ở đây, hạng người không có cấu uế và như thật tuệ tri: "Nội thân ta không có cấu uế". Trong HAI HẠNG NGƯỜI không có cấu uế, hạng người này vì vậy được gọi là hạng người ưu thắng’
* TÀ KINH A HÀM: “Nếu một người bên trong thật có ô uế nhưng tự biết như thật, biết như thật bên trong thật có ô uế, thì TRONG LOÀI NGƯỜI, người này là tối thắng.
Nếu có một người bên trong thật không có ô uế mà không tự biết, không biết như thật bên trong thật không có ô uế, thì TRONG LOÀI NGƯỜI, người này là tối hạ tiện.”
* BÌNH: Theo nguyên bản cả hai bài kinh tương đương trên đều do ngài XÁ LỢI PHẤT thuyết giảng. Thế nhưng so sánh kỹ hai bài kinh sẽ thấy bài kinh ‘Uế Phẩm’ của A Hàm có những cải biên thêm vào hết sức vô lý và thô lậu.
Cụ thể, trong bài kinh ‘Không Uế Nhiễm’ của Pāli, ngài Xá Lợi Phất nêu rõ sự so sánh giữa HAI HẠNG NGƯỜI có cấu uế và không có cấu uế THEO TỪNG CẶP ĐÔI MỘT VỚI NHAU. Điển hình như hai trường hợp đầu:
Trong HAI HẠNG NGƯỜI CÓ CẤU UẾ, người không biết mình có cấu uế hạ liệt hơn người biết mình có cấu uế, ngược lại người biết mình có cấu uế tốt hơn người không biết mình cấu uế.
Vì sao như vậy? Vì người biết mình có cấu uế nên mới cố tâm tẩy trừ cấu uế để trở nên tốt hơn, còn người không thấy mình cấu uế nên cứ cấu uế mãi. Giống như hai người có mặt bị dơ, người thứ nhất biết mặt mình bị dơ nên tìm cách rửa sạch, còn người thứ hai không biết mặt mình dơ nên cứ để dơ mãi.
Cũng vậy, giữa hai kẻ tà dâm thì kẻ tà dâm biết tà dâm là việc xấu xa nguy hại, nhờ vậy mới có cơ hội từ bỏ nó để trở nên tốt hơn. Còn kẻ tà dâm nhưng không thấy tà dâm là cấu uế, nên cứ tiếp tục tà dâm hoài.
Xin nhấn mạnh: ở đây chỉ so sánh GIỮA HAI NGƯỜI cùng phạm tà hạnh thôi, thì người thấy tà dâm là cấu uế có ưu thắng hơn người không thấy, chứ không phải so với trong loài người được.
-- Trong khi đó kinh ‘Uế Phẩm’ của A Hàm đã cải biên một cách hết sức vô lý và thô thiển khi so sánh kẻ cấu uế với CẢ LOÀI NGƯỜI. Cụ thể cứ theo lời phán truyền trong A Hàm, xét các ví dụ sau sẽ thấy rõ hơn sự phi lý của ngụy kinh cải biến:
“Nếu một người bên trong thật có sát sanh, trộm cướp, tà dâm, biết như thật bên trong mình có sát sanh, trộm cướp, tà dâm; thì TRONG LOÀI NGƯỜI, người này là tối thắng ư?" - Vô lý!
“Nếu một người bên trong thật không có sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm nhưng không tự biết mình không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm; thì TRONG LOÀI NGƯỜI, người này là tối hạ tiện sao?" - Tà lý!
Rõ ràng chỉ dựa vào đoạn cải biên vô lý nêu trên cũng đủ để những người có trí phải xem A Hàm như một tạng tà kinh ngụy tạo cần phải cảnh giác. Thế nhưng khốn thay, qua hàng ngàn năm nó vẫn không bị phát giác cảnh báo. Bấy nhiêu cũng đủ thấy sự cả tin ngây thơ trong tôn giáo nguy hiểm như thế nào.
Riêng bài kinh A Hàm này bị các dịch giả Bà-la-môn gọi xách mé là “Kinh Uế Phẩm” kể cũng đúng thôi! Ai vẽ ra và tin theo các kinh ô uế mới chính là những kẻ tối hạ liệt trong loài người!
Theo Kinh Sư Chánh Tư Duy
-----------------------------------
Ghi chú: Kinh Trung Bộ theo bản dịch của HT Thích Minh Châu, kinh Trung A Hàm theo bản dịch của TT Thích Tuệ Sĩ.

Xem bài liên quan nhấn vào đây
hoặc bài khác tại đây

Thứ Tư, 3 tháng 2, 2016

Điên thực sự!


Sau nhiều gian nan thử thách, vượt qua chín lần chín tám mươi mốt hiểm nạn, cuối cùng Thiện Tài Đồng Tử đã tìm gặp được cô cháu gái đời thứ chín mươi của nữ cư sĩ Visakha.

Giờ đây cô cháu gái của bà Visakha vừa là y tá trong một bệnh viện tâm thần, vừa là thành viên của Gia Đình Phật Tử thế hệ mới. Thiện Tài Đồng Tử vừa thi lễ xong, liền cất tiếng hỏi:
_ Thưa cô, vì sao Trí Khải đại sư lại phán rằng Phật thuyết Hoa nghiêm trong 21 ngày ngay sau khi chứng đạo?
_ Vì nếu pháp hội ấy được Phật thuyết trong 45 năm hoằng pháp, thì tại sao trong kinh Nguyên thuỷ Nikaya, một tạng kinh ghi lại từ bao nhiêu tiền kiếp của Phật đến tận lúc Ngài nhập Niết Bàn, nhưng không có một dòng nào, người nào nhắc đến sự kiện dị thường ấy? Phán như vậy để hợp thức hóa sự xuất hiện vô lý, và khoả lấp đi sự tồn tại phi lý của kinh Hoa nghiêm.
Nhưng trong 21 ngày đầu tiên ấy năm anh em ông Kiều Trần Như còn chưa có, vậy tại sao hội Hoa nghiêm lại có các Thanh văn A-la-hán “câm điếc” như các ngài Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, A-nan… cùng hàng ngàn các Tỳ-kheo khác?
_ Ông đi tìm Trí Khải đại sư mà hỏi. Tôi đã muốn điên vì những điều vớ vẩn trong cuốn kinh giả đó, giờ lại càng điên hơn vì những câu hỏi của ông.
Thiện Tài Đồng Tử chắp tay trấn an:
_ Cô không điên đâu, đừng lo!
_ Vì sao?
_ Vì chỉ có những kẻ tin bản kinh dỏm ấy và tin Trí Khải đại sư mới điên thực sự mà thôi!
_ Đúng vậy. Hãy đưa họ vào đây, tôi chữa cho!
Đại Tỉnh Thức

-------------------
Trích lục bài kinh "Mắng Nhiếc", số 211, Tăng Chi tập 2, Chương 5, XXII. Phẩm Mắng Nhiếc

Đức Phật dạy: 

"- Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, mắng nhiếc, mạ lỵ, các vị tu Phạm hạnh, phỉ báng bậc Thánh, vị ấy được chờ đợi năm sự nguy hại. Thế nào là năm?

Phạm tội bị tẩn xuất, chặt đứt con đường hướng thượng;
hay phạm một tội nhiễm;
hay cảm xúc bệnh hoạn trầm trọng;
khi mạng chung tâm bị mê loạn;
sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, mắng nhiếc, mạ lỵ, các vị tu Phạm hạnh, phỉ báng bậc Thánh, vị ấy được chờ đợi năm sự nguy hại này." (Hết trích)

Ghi chú: Ai tin các kinh văn cải biến và cũng nghĩ rằng các Thánh Tăng A La Hán Thanh Văn như những kẻ 'mù, câm, điếc' trong pháp hội Hoa Nghiêm, như vậy có phải là họ đã 'mắng nhiếc, mạ lỵ các vị tu Phạm hạnh, phỉ báng bậc Thánh" không? Họ có ngây thơ tin theo 'kẻ lạ' để rồi gánh lấy năm sự nguy hại không?

Thứ Ba, 2 tháng 2, 2016

Thiền sư tí hon


Vừa đi chợ về, bà mẹ trố mắt kinh ngạc nhìn cậu con trai đang lẩm bẩm một mình:
_ “Này Tèo”..., “Vâng, thưa ngài”..., “Nói khẽ thôi”..., “Vâng, thưa ngài”..., “Đừng để người khác đánh lừa”..., “Vâng, thưa ngài”...
Bà mẹ vội chạy đến bên con, hết sờ trán lại xoa đầu cậu quý tử, giọng hốt hoảng:
_ Trời ơi, con làm sao vậy Tèo? Không nóng, không sốt, không mê sảng mà cứ lảm nhảm như kẻ điên vậy con?
Tèo vùng vằng, chìa cuốn tập san Thiền học cho mẹ:
_ Mẹ này kỳ ghê. Con nói thì bảo điên. Còn cái ông thiền sư trong này cũng làm y như vậy, nhiều người lại cho là cao siêu vi diệu (*). Có người còn viết cả chục trang sách phân tích diễn giải nữa đây này.
Bà mẹ cười xòa hiểu ngay mọi chuyện, ôm con vào lòng thở phào nhẹ nhõm:
_ Thế nhĩ như thị, con ạ!
Đến lượt Tèo thắc mắc:
_ “Thế nhĩ như thị” là sao, hả mẹ?
_ Thế gian vốn là như vậy, chứ còn sao nữa!
Tèo nheo mắt hỏi giọng hóm hỉnh:
_ Hóa ra thiền sư và kẻ tâm thần phân liệt chỉ khác nhau có tên gọi thôi hả mẹ?
_ Nhưng cả hai có chung một đệ tử.
_ Ai?
_ Con chứ ai!
_ Mẹ cũng đắc thiền từ hồi nào vậy?
_ Từ lúc con hết lải nhải chứ lúc nào. Thôi muộn rồi, vào đây phụ mẹ nấu cơm đi Tèo.
_ Mẹ gọi thằng Tèo A hay thằng Tèo B?
Dí ngón tay vào trán con, bà mẹ mắng yêu:
_ Không dám, tôi bảo cái ông thiền sư tí hon này này.
Cả hai mẹ con cùng cười vang bước vào nhà bếp.
 Ba Tèo
__________________
(*) Thiền sư Zuigan