Thứ Năm, 19 tháng 4, 2018

PHÁP HỌC HAY PHÁP HÀNH


_ Có người nói Phật Pháp chia thành hai loại pháp học và pháp hành, từ đó mọi người cũng tin rằng có hai loại Tỳ-kheo là Tỳ-kheo pháp học và Tỳ-kheo pháp hành. Ông nghĩ sao? (1)
_ Đó là ý kiến của luận sư trong chú giải. Ý của Phật khác.
_ Khác thế nào?
_ Chính Ngài dạy trong chánh Kinh: “Ở đây, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến như thật trí này, về xứ là xứ, phi xứ là phi xứ, Ta tuyên bố rằng trí ấy chỉ có đối với người có Thiền định, không phải với người không Thiền định. Liên hệ đến như thật trí về quả báo tùy thuộc sở do, tùy theo sở nhân của các thọ nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại, Ta tuyên bố rằng trí ấy chỉ có đối với người có Thiền định, không phải với người không có Thiền định. Liên hệ đến như thật trí về sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất khởi của những thành đạt về Thiền, về giải thoát, về định, Ta tuyên bố rằng trí ấy chỉ có đối với người có Thiền định, không phải với người không có Thiền định. Ở đây, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến như thật trí, nhớ đến các đời sống quá khứ, Ta tuyên bố rằng trí ấy chỉ có đối với người có Thiền định, không phải với người không thiền định. Liên hệ đến như thật trí về sự sanh diệt của chúng sanh, Ta tuyên bố rằng trí ấy chỉ có đối với người có Thiền định. Ở đây, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến như thật trí về sự đoạn diệt các lậu hoặc, Ta tuyên bố rằng trí ấy chỉ có đối với người có Thiền định, không phải với người không có thiền định. Như vậy, này các Tỷ-kheo, định là chánh đạo, không định là tà đạo” (2)
_ Vậy là pháp hành quan trọng hơn?
_ Nhưng không học làm sao biết lời dạy trên và thực hành cho đúng.
_ Như vậy học phải đi đôi với hành, hành phải đi đôi với học?
_ Chứ còn gì nữa! Một em học sinh còn biết hành mà không học là tu mù, học mà không hành chỉ là mọt sách, huống hồ đệ tử Phật.
_ Thế ra chỉ có luận sư Bà-la-môn và đệ tử của họ mới tin pháp học là pháp học, pháp hành là pháp hành, pháp thành là pháp thành, ba pháp phân biệt!
_ Đúng vậy!
THÍCH CHÁNH PHÁP

TÁI SANH PHẬT GIÁO


Hai thiếu niên Tiểu Thừa ngồi nói chuyện với nhau. Em thứ nhất:

_ Này cậu, Đức Phật dạy số người được tái sanh trở lại làm người ít như đất trên móng tay, và số người còn lại phải tái sanh vào cõi dữ, đoạ xứ, địa ngục thì nhiều như quả đất này. Theo cậu, làm thế nào để kiếp sau mình vẫn được tái sanh làm người và trong gia đình Phật giáo Chánh thống?

_ Theo tớ, trước hết cậu phải giữ nghiêm năm giới và cả giới ăn “tam tịnh nhục” nữa.

_ Giữ năm giới để được làm người thì tớ hiểu. Nhưng tại sao giữ giới ăn “tam tịnh nhục” lại được sanh vào gia đình Phật giáo Chánh thống?

_ Vì chỉ có Phật giáo Chánh thống mới có giới này! Cậu không thể tái sanh vào loài bàng sanh, vì loài này tuy cũng “ăn hiền ở lành” nhưng chỉ biết ăn rau cỏ, củ hạt. Cậu cũng không thể tái sanh vào súc sanh, vì loài này không biết ăn “tam tịnh nhục”, thịt gì cũng nuốt, xác nào cũng nhai, thời nào cũng xực. Cậu phải hiểu rõ giới nào đúng, giới nào sai để hành trì mới đỡ khổ.

_ Ừ nhỉ, thảo nào, không chấp thủ những giới cấm sai lầm, tức chặt đứt được giới cấm thủ kiết sử, là một trong những yêu cầu đầu tiên để giải thoát. Bây giờ mình hiểu rồi. Cảm ơn cậu.

CHÁNH PHÁP TÔNG

Thứ Sáu, 13 tháng 4, 2018

THẾ NÀO LÀ PHẬT TỬ CHÂN CHÁNH?


DẪN: Những ai muốn thành cư sĩ sen trắng, sen hồng; không muốn thành kẻ tối hạ liệt, bị vất bỏ trong Pháp và Luật của Đức Thế Tôn hãy ghi nhớ kỹ và thực hành theo bài kinh dưới đây
Kinh “Kẻ Bị Vất Bỏ”, số 175, Tăng Chi Chương 5 Pháp, Phẩm Nam Cư Sĩ
"1. - Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ là kẻ bị vất bỏ khỏi giới nam cư sĩ, là cấu uế cho nam cư sĩ, là tối hạ liệt cho nam cư sĩ. Thế nào là năm?
* Không tin;
* ác giới;
* đoán tương lai với những nghi lễ đặc biệt;
* tin tưởng điềm lành, không tin hành động;
* tìm kiếm ngoài (Tăng chúng) người xứng đáng tôn trọng và tại đấy phục vụ trước.
Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ là kẻ bị vất bỏ khỏi giới nam cư sĩ, là cấu uế cho nam cư sĩ, là tối hạ liệt cho nam cư sĩ.
2. Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, một nam cư sĩ là hòn ngọc trong giới nam cư sĩ, là hoa sen hồng trong giới nam cư sĩ, là hoa sen trắng trong giới nam cư sĩ. Thế nào là năm?
* Có lòng tin;
* có giới;
* không đoán tương lai với những nghi lễ đặc biệt;
* không tin tưởng điềm lành, tin tưởng ở hành động;
* không tìm kiếm ngoài Tăng chúng người xứng đáng tôn trọng và tại đấy phục vụ trước.
Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, một nam cư sĩ là hòn ngọc trong giới nam cư sĩ, là hoa sen hồng trong giới nam cư sĩ, là hoa sen trắng trong giới nam cư sĩ." <Hết trích>
Ý KIẾN CON PHẬT
PHẬT TỬ CHÂN CHÁNH LÀ:
_ Phật tử "CÓ LÒNG TIN" là tin vào Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, tin vào Chánh Pháp chính thống, tin vào Chúng Thánh Tăng A La Hán.
_ "CÓ GIỚI" là không sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, dùng rượu và chất gây nghiện.
_ Không bị dẫn dắt vào bói toán mê tín, vào tế lễ phù phiếm; mà tin vào LUẬT NHÂN QỦA
_ Không tin tưởng vào các may rủi vô căn cứ mà tin và thực hành đầy đủ làm thiện, nói thiện, ý nghĩ thiện
_ Hộ độ Chúng Tăng thanh tịnh giới hạnh
KINH SƯ

TỪ NHIỀU KIẾP TRƯỚC CÁC BÀ LA MÔN ĐÃ DỰA VÀO CHAY MẶN ĐỂ CHỐNG PHÁ CHƯ PHẬT QUÁ KHỨ


DẪNVới những ai có một chút hiểu biết về Ấn Độ Giáo nói chung, và Bà-la-môn Giáo nói riêng, họ đều biết rõ ăn chay vốn là truyền thống lâu đời của các Bà-la-môn giáo, chứ không phải của Đạo Phật.

Không phải chỉ có thời Đức Phật Thích Ca không thôi, mà từ nhiều đời kiếp trước các Bà-la-môn cũng đã dựa vào ăn chay để chống phá Chư Phật ‘tam tịnh’ quá khứ. Bài kinh “Amagandha” trong tạng Pali chánh gốc là chứng minh điển hình.

Trong bài kinh này, các Bà-la-môn từ nhiều kiếp trước đã biết móc mỉa, cạnh khóe chuyện ăn mặn của Đạo Phật, và ĐỨC PHẬT QUÁ KHỨ KASSAPA đã phải rống tiếng sư tử để dạy cho họ biết thế nào là “ĂN ĐỒ HÔI THỐI, ĂN THỊT KHÔNG PHẢI THỐI”.

Trong Kinh Luật Pali chánh gốc còn ghi lại hàng trăm dẫn chứng khác về việc Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng đã rống tiếng sư tử minh định rõ về vấn đề này.

Hy vọng các Bà-la-môn chay phát triển đời sau đọc kỹ bài kinh ‘Amagandha’ dưới đây để không còn tiếp tục dựa vào truyền thống ăn chay của mình đả kích chống phá Chánh Tam Bảo, và gây phân hóa chia rẽ Phật giáo thành Phật giáo chay – Phật giáo mặn. Sự phân chia này chỉ bắt đầu phát sinh từ khi các luận sư Bà-la-môn đời sau gia nhập vào Phật giáo. Đây cũng là tội “PHÁ HÒA HỢP TĂNG”, một trong năm đại nghịch tội phải đọa vào địa ngục Vô gián.

KINH HÔI THỐI (Amagandha) (Sn 42)
Tiểu Bộ tập 1, Kinh Tập – Sutta Nipata, Chương 2 – Tiểu Phẩm

Bà-la-môn:

239. Các bậc Thiện chơn chánh,
Ăn hạt giống cây thuốc,
Ăn đậu đũa, đậu rừng,
Ăn lá, ăn rễ cây,
Ăn trái các dây leo,
Nhận được thật đúng pháp.
Vị ấy không nói láo,
Vì các dục thúc đẩy.

240. Ôi ngài Kassapa,
Ai ăn các món ăn,
Do người khác bố thí,
Khéo làm, khéo chưng dọn,
Trong sạch và thù thắng;
Ăn lúa gạo thơm ngon.
Ai ăn uống như vậy
Là ăn thịt hôi thối.

241. Này bà con Phạm thiên,
Chính Ngài tuyên bố rằng:
Ta không ăn đồ thối,
Ðể nuôi sống thân Ta.
Nhưng Ngài ăn món ăn
Bằng lúa gạo thơm ngon,
ĂN THỊT CÁC LOÀI CHIM,
Nấu ăn thật khéo léo
Ta hỏi Kassapa:
Ý nghĩa sự kiện này,
Ngài định nghĩa thế nào,
Là ăn đồ hôi thối?

ÐỨC PHẬT KASSAPA:

242. Sát sanh và hành hình,
Ðả thương và bắt trói,
Trộm cắp và nói láo,
Man trá và lừa đảo,
Giả bộ kẻ học thức,
Ði lại với vợ người,
ÐÂY LÀ ĐỒ ĂN THỐI,
ĂN THỊT KHÔNG PHẢI THỐI
.

243. Ở đời, các hạng người,
Không chế ngự lòng dục,
Ðam mê các vị ngon,
Liên hệ đến bất tịnh,
Theo chủ nghĩa hư vô,
Bất chánh khó hướng dẫn,
ÐÂY LÀ ĂN ĐỒ THỐI,
ĂN THỊT KHÔNG PHẢI THỐI
.

244. Ai thô bạo, dã man,
Sau lưng nói gièm pha,
Phản bạn không từ bi,
Lại cống cao ngạo mạn,
Tánh không có bố thí,
Không cho ai vật gì,
ÐÂY LÀ ĂN ĐỒ THỐI,
ĂN THỊT KHÔNG PHẢI THỐI
,

245. Phẫn nộ và kiêu mạn,
Cứng đầu và chống đối
Man trá và tật đố,
Nói vô ích, huênh hoang,
Kiêu mạn và quá mạn,
Thân mật với kẻ ác,
ÐÂY LÀ ĂN ĐỒ THỐI,
ĂN THỊT KHÔNG PHẢI THỐI
,

246. Ác giới, nợ không trả,
Làm người điểm chỉ viên,
Làm những nghề dối trá,
Ở đây, kẻ giả vờ,
Ở đây người bần tiện,
Những người làm ác nghiệp,
ÐÂY LÀ ĂN ĐỒ THỐI,
ĂN THỊT KHÔNG PHẢI THỐI
.
247. Ở đời đối hữu tình,
Người không biết kiềm chế,
Lấy cướp sở hữu người,
Chú tâm làm hại người,
Ác giới và tàn nhẫn
Ác ngữ, thiếu lễ độ,
ÐÂY LÀ ĂN ĐỒ THỐI,
ĂN THỊT KHÔNG PHẢI THỐI
,

248. Hạng tham ô, thù nghịch,
Tìm cách để giết hại,
Luôn luôn hướng về ác,
Sau chết sanh tối tăm,
Chúng sanh ấy rơi vào,
Ðịa ngục đầu xuống trước.
ÐÂY LÀ ĂN ĐỒ THỐI,
ĂN THỊT KHÔNG PHẢI THỐI
,

249. Không phải do cá thịt,
Cùng các loại nhịn ăn,
Không phải do lõa thể,
Ðầu trọc và bện tóc,
Không do tro trét mình,
Mặc da thú khô cứng,
Không phải do săn sóc,
Nuôi dưỡng lửa tế tự,
Không do nhiều khổ hạnh,
Ðể được chứng bất tử,
Không bùa chú tế tự,
Các tế đàn thời tiết,
Làm con người trong sạch,
Nếu nghi hoặc chưa đoạn.

250. Do sống hộ trì căn,
Với các căn nhiếp phục,
Vững trú trên Chánh pháp,
Thích chân trực, hiền hòa,
Vượt khỏi các tham ái,
Ðoạn tận mọi khổ đâu,
Bậc trí không nhiễm dính,
Ðiều được thấy, được nghe.

251. Nhiều lần, Thế Tôn thuyết,
Ý nghĩa lời dạy này,
Bậc bác học kệ chú,
Thâm hiểu ý nghĩa ấy.
Bậc ẩn sĩ nói lên,
Với những kệ tuyệt diệu,
Bậc không ăn đồ thối,
Ðộc lập, khó hướng dẫn.

252. Nghe xong những lời dạy,
Lời Thế Tôn khéo nói,
Chấm dứt ăn đồ thối,
Ðoạn tận mọi khổ đau,
Vị ấy đảnh lễ Phật,
Với tâm ý nhún nhường,
Thỉnh cầu được cho pháp,
Xuất gia tại nơi đây.


HT Thích Minh Châu dịch Việt

ĂN THỊT CHA MẸ?


Một vị Bà-la-môn, theo truyền thống ăn chay trường, trách cư sĩ Jivaka:
_ Ông còn ăn “mặn” là ăn thịt cha mẹ nhiều đời đấy nhé!
Cư sĩ Jivaka hỏi lại:
_ Đức Phật đã khuyến cáo có vô số, vô lượng chúng sanh trong ly nước. Ông lấy gì bảo đảm cha mẹ nhiều đời của ông không tái sanh trong vô số, vô lượng chúng sanh trong ly nước và các món ăn chay của ông?
Bà-la-môn đánh trống lảng:
_ Nhưng các ông cũng ăn rau, đậu hũ, uống nước; như vậy các ông sát sanh nhiều hơn chúng tôi.
_ Thưa ngài, chỉ có những kẻ đạo đức giả lại cố chấp ngu si không hiểu thế nào là ăn thịt “không thấy, không nghe, không nghi”, nên mới phỉ báng những người an tam tịnh nhục. Cha mẹ nhiều đời chúng tôi không phạm giới cấm thủ và đạo đức giả nên giải thoát cả rồi!
CƯ SĨ TAM TỊNH

AI TIN KINH A HÀM, HƯỞNG THỌ TỪ TẾ LỄ COI CHỪNG BỊ QUỞ "HIỀN NHƯNG NGU" NHƯ KINH "HIỀN NGU" PHẬT DẠY

Phân tích so sánhhai bài knh tương đương trong Pali và A Hàm
Chánh Kinh "Hiền Ngu" (số 129, Trung Bộ Pali) & Tà kinh "Si Tuệ Địa" (số 199, Trung A Hàm)
Chánh kinh Pāli: “Này các Tỷ-kheo, có các sanh vật thuộc loại bàng sanh, có hơi thở và ăn phân. Chúng ngửi được mùi phân từ đường xa, liền chạy tới, nghĩ rằng: "Chúng ta sẽ ăn ở đây, chúng ta sẽ ăn ở đây". Ví như các Bà-la-môn chạy đến, ngửi được mùi lễ tế sanh, nghĩ rằng: "Chúng ta sẽ ăn ở đây, chúng ta sẽ ăn ở đây".
Cũng vậy này các Tỷ-kheo, có các loại sanh vật, thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, và ăn phân. Chúng ngửi được mùi phân từ đường xa, liền chạy tới, nghĩ rằng: "Chúng ta sẽ ăn ở đây, chúng ta sẽ ăn ở đây".
Và này các Tỷ-kheo, các sanh vật ấy, thuộc loại bàng sanh, có hơi thở và ăn phân là gì? Các loại gà, heo, chó, chó rừng (giả can), hay tất cả các sanh vật khác, thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, ăn phân.
Này các Tỷ-kheo, người ngu ấy do trước kia hưởng thọ ở đây, do trước kia làm các ác nghiệp ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, sanh ra cọng trú với các loại hữu tình ấy, những loại hữu tình ăn phân.”
Tà kinh A Hàm: “Này các Tỳ-kheo, thế nào là súc sanh khổ? Nếu chúng sanh sanh vào trong súc sanh, là loài súc sanh khi nghe mùi đại tiểu tiện của người ta, liền chạy đến chỗ đó, ăn loại đồ ăn đó. Cũng như trai, gáinghe được mùi ẩm thực liền chạy đến và nói rằng: ‘Đây là đồ ăn, đây là đồ ăn.’
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, nếu chúng sanh sanh trong súc sanh, tức là loài súc sanh khi nghe mùi người ta đại tiểu tiện ra, liền chạy đến nơi đó, ăn loại đồ ăn đó. Chúng là những loại gì? Đó là gà, heo, chó, chó sói, quạ, câu-lâu-la, câu-lăng-già. Người ngu si ấy, vì lúc xưa tham trước thực vị. Nó hành động với thân ác hạnh, khẩu và ý ác hạnh, do nhân duyên đó, khi thân hoại mạng chung, sanh trong súc sanh, tức là loài ăn phân ô uế. Như vậy gọi là súc sanh khổ.”
PHÂN TÍCH SO SÁNH: Những người trí đọc hai đoạn kinh tương đương trên, có thể dễ dàng nhận biết được ai là thủ phạm của những cải biên ngụy trá phá hoại ngầm Phật Pháp trong tà kinh A Hàm.
Đúng vậy, hẳn nhiên chỉ có các dịch sư gốc Bà-la-môn đóng vai gián điệp để trở thành những con trùng trong lông sư tử, mới ngang nhiên sửa đổi xuyên tạc lời Phật nhằm ‘cứu rỗi’ cho các Bà-la-môn khỏi phải ‘ăn phân tế lễ’, đồng thời chỉa mũi dùi gây hại cho chính Đạo Phật.
Các gián điệp Bà-la-môn đã mang sẵn tinh thần thù ghét đạo Phật gặp phải đoạn kinh Đức Thế Tôn nêu đích danh thói hư tật xấu của giai cấp mình, đương nhiên các Bà-la-môn gián điệp phải xóa bỏ nó và cải biến thành các “trai, gái” chung chung để tất cả các gái trai đọc tới đây bị chạm tự ái cùng quay sang tức Phật cũng như các ông Bà-la-môn vậy. Rõ ràng chỉ có những ai không phải là “trai, gái” đọc đoạn A Hàm nêu trên mới không tức mà thôi.
Các ông vua, hoàng hậu, đại thần, tể tướng không phải bán nam bán nữ khi bị kẻ khác sàm tấu, hẳn là không bỏ qua sự xúc phạm này. Cho nên trong lịch sử đã có những thời kỳ Phật giáo bị tiêu diệt cũng phải.
Sự trả thù không dừng lại ở đây, các Bà-la-môn gián điệp tiếp tục cay cú ngụy tạo hẳn cả một cuốn “kinh Hiền Ngu” khác của Đại Thừa với nhiều thâm ý xỏ xiên Phật - Pháp - Tăng để xúi dại con Phật. Hãy nghe ông Phạm Thiên trong ‘kinh Hiền Ngu của Đại thừa bịa chuyện để xúi dại mấy người hiền nhưng hơi bị ngu thế này: tiền kiếp Đức Phật (Đại Thừa) vốn là vua Tu Lâu Bà ở Châu Diêm Phù Đề đem bố thí cả vợ con cho kẻ khác ăn thịt để được nghe pháp. Còn khi Phật làm vua Kiền Sá Ni Yết Lê lại “khoét trên mình ra một ngàn lỗ, đổ dầu cho bấc, đốt lửa cúng dàng” người nói pháp???
Hẳn chỉ có tà pháp, pháp ma, pháp quỷ mới khiến người tin theo khổ đau khốn nạn như vậy. Và cũng chỉ có những những kẻ hiền nhưng hơi bị ngu mới thực hành theo. Đức Thế Tôn trong kinh tạng Pali đã dạy rõ: 
“Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh suy tư như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh suy nghĩ tự làm hại mình, suy nghĩ làm hại người khác, suy nghĩ làm hại cả hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh suy tư như người bất chánh” (Tiểu Kinh Mãn Nguyệt, MN 110) thì làm gì có chuyện Ngài lại dạy nêu gương hành khổ mình khổ người như thế.
“Kinh Hiền Ngu” của Đại Thừa chính là phản đòn thâm hiểm của các Bà-la-môn gián điệp nhằm trả đũa Đức Phật vì đã nêu rõ họ giống như những con vật ăn phân. Khốn thay, một khi các con chiên đã quá tin vào những Bồ-tát gián điệp của họ, cho nên chẳng còn ai tỉnh giác để nhận thức được những điều thấu cáy nguy hại trong bản tà kinh A Hàm cũng như kinh Hiền Ngu Đại Thừa.
Bản kinh “Hiền ngu” giả của Đại Thừa đang chờ những người hiền trí thật soi sáng để đưa nó vào “Viện Bào Tàng Chứng Tích Phá Hoại Phật Pháp”.
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU HỌC PHẬT

THẤT THẤT LAI TUẦN


Ông nội của Bi vừa mất, cả nhà còn đang đau buồn. Đã thế sắp đến “49 ngày” cầu siêu cho ông nội mà cả nhà vẫn chưa tìm đủ số tiền để làm lễ theo yêu cầu của vị thầy cúng. Thấy cha mẹ muộn phiền, bé Bi càng xót xa trong dạ. 
Là thành viên trong Gia Đình Phật Tử thế hệ mới, bé Bi cũng biết chút ít Phật Pháp nên muốn giúp cha mẹ một tay. Buổi chiều bé Bi ra ngoài bờ ao chắp tay quỳ gối, chốc chốc lại ném một cục đá và chút bơ xuống nước rồi hét to tụng niệm. Cả nhà thấy lạ chạy ra. Chị Hai mau miệng:
_ Ủa, em làm gì kỳ vậy Bi?
Bi hồn nhiên:
_ Bé đang cầu nguyện cho đá nổi lên trên, cho bơ chìm xuống nước.
Anh Ba chen ngay:
_ Trời đất, đúng là đồ con nít điên khùng. Cả thế giới này có xúm lại cầu xin với em cũng không làm được chuyện ấy.
_ Vậy, tại sao cả nhà lo cầu siêu “49 ngày” cho ông nội làm gì? Ông cả đời làm lành, lánh ác, tạo nhiều thiện phước, người ta có cầu cho ông nội đọa địa ngục cũng không được. Ngược lại kẻ phá nát năm giới, dù mọi người có xúm lại cầu siêu, cũng không thoát lên thiên đàng. Nếu hạnh phước và giầu có do cầu xin mà được, thì thế giới này còn ai khổ đau đói nghèo, còn gì là luật nhân quả. Phật đã dạy lâu rồi mà!
Cả nhà nhìn nhau chưng hửng cùng “hoát nhiên tiểu ngộ”. Kể từ hôm ấy cha mẹ Bi không còn phải chạy lo kiếm tiền cúng tế nữa. Phần ông thầy chủ lễ biết chuyện, cũng không dám đến nhà Bi kiếm chác. Mọi người thở phào nhẹ nhõm.
Bạn Bi
_____________

Pháp Thí:
Bài kinh “Người Đất Phương Tây hay Người Đã Chết” (S.iv,311), Đức Thế Tôn đã dạy cho thôn trưởng Asibandhakaputta:
“-- Ví như, này Thôn trưởng, có người lấy một tảng đá lớn ném xuống một hồ nước sâu. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: "Hãy đứng lên, tảng đá lớn! Hãy nổi lên, tảng đá lớn! Hãy trôi vào bờ, này tảng đá lớn!" Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, tảng đá lớn ấy do nhân cầu khẩn của đại quần chúng ấy, hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp tay đi cùng khắp, có thể trồi lên, hay nổi lên, hay trôi dạt vào bờ không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này Thôn trưởng, người nào sát sanh, lấy của không cho, sống theo tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận, theo tà kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: "Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này!" Nhưng người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”.
-- Ví như, này Thôn trưởng, có người nhận chìm một ghè sữa đông (sappi) hay một ghè dầu vào trong một hồ nước sâu rồi đập bể ghè ấy. Ở đây, ghè ấy trở thành từng miếng vụn, hay từng mảnh vụn và chìm xuống nước. Còn sữa đông hay dầu thời nổi lên trên. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói: "Hãy chìm xuống, này sữa đông và dầu! Hãy chìm sâu xuống, này sữa đông và dầu. Hãy chìm xuống tận đáy, này sữa đông và dầu!". Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, sữa đông ấy, dầu ấy, có do nhân cầu khẩn của đám quần chúng đông đảo ấy, do nhân tán dương, do nhân chấp tay đi cùng khắp của quần chúng đông đảo ấy nên bị chìm xuống, hay chìm sâu xuống, hay đi xuống tận đáy không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này Thôn trưởng, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham, không có sân, theo chánh tri kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói: "Mong rằng người này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục!" Nhưng người ấy sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này”.

ĂN CHAY THỐI MIỆNG


Hai cư sĩ đang thảo luận với nhau, vị áo nâu hỏi người áo trắng:
_ Nghe nói ăn chay bớt dục, đúng không ông?
_ Nếu đúng như thế thì tất cả lũ trâu, bò, dê, ngựa đã bị tuyệt chủng; còn các ông Bà-la-môn chay trường đã bị tuyệt tự từ lâu rồi!
_ Người khác nói ăn chay để từ bi hơn?
_ Nếu vậy, người ra sức cổ xuý cho ăn chay là Đề-bà-đạt-đa đã không xúi vua A-xà-thế giết cha và âm mưu hãm hại cả Đức Thế Tôn. Có biết bao các tín đồ ngoại học, cũng ăn chay cả tháng, nhưng giết người không thua kẻ diệt chủng thì sao?
_ Vậy mà vẫn có người cho rằng ăn chay đỡ sát sanh hơn…
_ Nếu thế, họ là những kẻ đạo đức giả, trừ khi họ nhịn cả ăn chay và uống nước lã với vô số vô lượng chúng sanh trong đó.
_ Nói tóm lại, ý ông muốn nói: ăn chay cũng tốt nhưng đừng bắt chước các luận sư gián điệp thối miệng ngụy biện để chống phá Đức Phật, Đạo Phật phải không?
_ Mô Phật! Pháp nhĩ như thị.
CHÁNH ĐẠO CƯ SĨ

Chủ Nhật, 8 tháng 4, 2018

ĐẠI THỪA PHÁP BẤT LY THẾ GIAN PHÁP NHƯ THẾ NÀY Ư?


Một nhóm cư sĩ đang ngồi nói chuyện với nhau về đề tài “Phật pháp bất ly thế gian giác”. Hội chúng còn đang sôi nổi bàn tán, bỗng nhiên một cư sĩ áo trắng hạ thấp giọng như muốn tiết lộ một chuyện bí mật:
_ Này các ông, tôi nghe rõ ràng có một ông đại quan được cấp trên bật đèn xanh, đút lót cho các quan đồng liêu, tất cả hè nhau giúp phóng thích cho cha mẹ của họ thoát khỏi ngục tù đại hình.
Cư sĩ áo lam lớn tiếng phê bình:
_ Đến như trong kinh Tiểu thừa, người con chí hiếu nào cũng biết: Muốn báo thâm ân, phải an trú cha mẹ vào Chánh Tín, Giới Đức, Bố Thí, và Trí Tuệ. Người đời không biết đạo nên cha mẹ đã làm càn bị tội, con càng làm bậy bao che. Đời này mạt pháp nên mới có lắm kẻ phi pháp như vậy.
Cư sĩ áo vàng phụ hoạ:
_ Không biết pháp mạt hay người mạt. “Thượng bất chính, hạ tắc loạn”, vua không ra vua, quan chẳng ra quan, hối lộ, đút lót cho nhau bất chấp luật lệ công bằng nhân quả. Liệu họ có xứng đáng là “phụ mẫu chi dân”, giữ gìn đạo đức an nguy cho xã tắc?
Vị kế bên:
_ Cũng trong Pháp Cú của Tiểu Thừa, Phật đã dạy rõ: “Tự mình làm điều ác. Tự mình làm nhiễm ô. Tự mình ác không làm. Tự mình làm thanh tịnh. Tịnh, không tịnh tự mình. Không ai thanh tịnh ai” (PC 165). Mỗi người phải biết sợ nhân quả nghiệp báo và phải tự mình chịu trách nhiệm lấy bản thân mình, nhờ vậy thế giới mới trở nên lương thiện an bình được chứ?
Vị áo nâu tiếp lời:
_ Nếu mọi người đều lợi dụng chức quyền bao che tội ác như thế, những kẻ bất nhân còn sợ gì hình phạt? Chúng cứ theo đó làm càn, biết bao giờ họ mới thôi gây tội ác? Đến Trời Phật còn phải tuân theo luật nhân quả, huống hồ con người. Đúng là trò phi nhân.
Vị áo xanh lắc đầu xẵng giọng:
_ Còn phi luân thường, phi đạo lý nữa chứ. Phật dạy một nghiệp ác giống như tảng đá chìm trong nước, dù vạn người cầu nguyện cũng không nổi lên được. Luật nhân quả đối với người chết rõ ràng như thế, luật cho người sống cũng không khác được. “Trần sao âm vậy” làm trái với lời Phật dạy, đương nhiên cũng trái với luật pháp thế gian.
Bỗng nhiên, tất cả như chợt nhớ ra điều gì, cùng quay sang hỏi vị cư sĩ áo trắng:
_ Nhưng ông nghe tin ấy từ đâu?
Cư sĩ áo trắng ôm đầu rên rỉ:
_ Từ “kinh” Vu Lan của các tổ sư Đại Thừa chứ đâu!
HOÀNG DƯỢC ĐẠO SƯ

CÓ THỜ CÓ THIÊNG, CÓ KIÊNG CÓ LÀNH


Bác Ba xe ôm hỏi ông bạn hàng xóm là một giáo sư đại học và cũng là một cư sĩ đạo Phật:
- Thưa giáo sư, ông là một nhà khoa học, thuần túy khoa học; thế nhưng tại sao ông cứ nhắc đi nhắc lại với mọi người: “Có thờ, có thiêng, có kiêng, có lành”? Không lẽ ông vẫn còn duy tâm, mê tín?
Vị giáo sư cười lành:
- Thưa bác Ba, câu “Có thờ, có thiêng, có kiêng, có lành” là hoàn toàn duy vật, là hoàn toàn khoa học đấy ạ!
- Hoàn toàn duy vật, hoàn toàn khoa học là sao? Giáo sư có nói đùa không vậy?
- Tôi nói nghiêm chỉnh, thưa bác.
- Nghiêm chỉnh thế nào, ông làm ơn giải thích rõ hơn.
- Vâng thưa bác, nhà tôi có thờ Phật, và tôi nói với các con tôi rằng gia đình ta thờ một bậc Đạo Sư cả đời nêu gương sống thiện, làm thiện; trước sau chỉ răn dạy con người ăn hiền ở lành, đối xử tốt với nhau. Gia đình ta thờ Ngài là để nhắc nhở chúng ta sống theo những lời dạy chân chánh, hiền thiện của ngài, cố gắng giữ gìn năm giới: không sát sanh, không trộm cắp, không tà hạnh, không nói dối, không dùng rượu và các chất gây nghiện. Thưa bác, mình “có thờ” như vậy “có lành” không ạ?
- Lành quá đi chứ! Thiện quá đi chứ! Nhưng “có thiêng” như thế nào?
- Thưa bác, muốn biết “có thiêng” thật không, phải hiểu rõ “có kiêng” trước đã. “Có kiêng” ở đây không phải là kiêng bóng, kiêng gió, kiêng tà, kiêng vạy, kiêng bừa theo kiểu: “chớ đi mồng bảy, chớ về mười ba”; “không quét nhà mồng một Tết”… Mà “có kiêng” ở đây phải hiểu là kiêng thân không làm điều ác, kiêng miệng không nói lời ác, kiêng ý không nghĩ ác. Thưa bác, chúng ta “kiêng” như vậy “có lành” không ạ?
- Lành thật chứ còn gì nữa. Mình kiêng không sát sanh thì có quả lành không sát sanh. Mình kiêng không trộm cắp tất có quả lành từ không trộm cắp. Mình kiêng không tà hạnh trong các dục, tất có quả lành từ không tà dục. Mình kiêng không nói dối hại người hại mình, sẽ có quả lành không nói dối. Mình kiêng không uống rượu và nghiện ngập, phải có quả lành từ không nghiện ngập.
- Thưa bác, có nhiều quả lành như vậy, thời “có thiêng” không ạ?
- Thiêng quá là thiêng! Nhân quả thiêng thật!
- Đúng vậy. Thưa bác, tin vào “Nhân Quả” như vậy là duy tâm hay duy vật?
- Duy tâm cũng tốt, duy vật cũng tốt luôn!
- Có phản khoa học không?
- Tôi không phải là nhà khoa học, nhưng tôi nghĩ nhà khoa học nào tin như vậy, là nhà khoa học thiện lành, đáng kính trọng.
- Thưa bác, đó là lý do vì sao tôi hay nói “Có thờ, có thiêng, có kiêng, có lành”.
- Lành thay, từ nay tôi cũng sẽ nhắc nhở mọi người “Có thờ, có thiêng, có kiêng, có lành”!
- Còn tôi sẽ gọi bác là “Giáo sư xe ôm”, bác chịu không?
- Chịu quá chứ lại!

GIÁO SƯ HỌC PHẬT