Thứ Bảy, 24 tháng 9, 2016

Cúng dường Bụt... Bà La Môn


Các vị Thần Tiên đang ngồi đàm đạo với nhau trên Cung Trời Đao LợiTiên Trắng đặt vấn đề:
Này các bạn, mình thấy có nhiều nơi người ta xúi dại nhau đốt đầu, chặt ngón tay và họ cho như thế là cúng dường Phật.
Cả đám liền nhao nhao phản đối. Tiên Hồng thở phì giọng mũi:
_ Họ cúng dường Phật... Bà-la-môn thì có, chứ Phật Thích Ca đâu có xúi dại như vậy.
Tiên Vàng phụ họa:
_ Đúng vậy. Chính Đức Phật Thích Ca đã dạy trong kinh Tăng Chi Nguyên thuỷ: Ở đây, này Tỷ-kheo, Bậc Hiền trí, Ðại tuệ, không có nghĩ tự làm hại mình, không có nghĩ tự làm hại người, không có nghĩ tự mình làm hại cả hai, có suy nghĩ điều gì thời suy nghĩ lợi mình, lợi người, lợi cả hai, lợi toàn thể thế giới. Như vậy, này Tỷ-kheo, là Bậc Hiền trí, Ðại tuệ”. Một Đức Thế Tôn đã dạy như thế làm gì chấp nhận sự cúng dường hại mình hại người kiểu đốt đầu, chặt tay như vậy.
Tiên Đỏ có vẻ am hiểu:
_ Những tập tục đốt liều, hành xác này vốn xuất phát từ các tổ sư Trung Hoa, chứ trong Đạo Phật chính thống không có.
Tiên Xanh tiếp lời:
_ Tiên Đỏ nói đúng. Các tổ sư gốc Bà-la-môn này đã kế thừa truyền thống hại mình, hại người của các ông Bà-la-môn thời Phật chứ đâu. Trong kinh Devadaha, số 101, Trung Bộ 3, Đức Phật đã dạy cho các ông khổ hạnh Ni-kiền-tử thế này "Chư Hiền Nigantha, các Ông nghĩ thế nào? Khi các Ông tha thiết tinh tấn, tha thiết tinh cần, trong khi ấy có phải các Ông thọ lãnh những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ? Còn trong khi các Ông không tha thiết tinh tấn, không tha thiết tinh cần, trong khi ấy có phải các Ông không thọ lãnh những cảm giác thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ, thống khổ”  
Tiên Lam mạnh giọng:
_ Rõ ràng các kiểu hành xác đốt liều, chặt tay là cúng dường cho mấy ông Ni-kiền-tử Bà-la-môn khổ hạnh, chứ không phải cúng dường Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Người ta càng tinh tấn đốt đầu, chặt tay; càng thống khổ, đột khởi, đau đớn, cực khổ chứ giải thoát cái nỗi gì. Đây là lối tà tinh tấn, là ác trí, dại tuệ.
Tiên Vàng đồng ý với bạn:
_ Đúng vậy, càng tà tinh tấn càng làm khổ mình khổ người, vì đã suy tư hành động như người bất chánh. Trong Trung Bộ 3 có bài Tiểu Kinh Mãn Nguyệt, Đức Phật dạy thế này: “Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh suy tư như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh suy nghĩ tự làm hại mình, suy nghĩ làm hại người khác, suy nghĩ làm hại cả hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh suy tư như người bất chánh.  Kiểu đốt đầu mình, đốt đầu người, chặt tay mình, chặt tay người là kiểu suy tư hành động của những người bất chánh.
Tiên Tím nãy giờ im lặng, giờ mới lên tiếng:
_ Kiểu bất chánh hại mình, hại người ấy cũng bắt nguồn từ các kinh văn ngụy tạo vụng thuyết của các tổ sư gốc Bà-la-môn gián điệp. Trong chánh kinh Tăng Chi, Đức Phật đã chỉ rõ: “Trong một pháp luật được vụng thuyết, này các Tỷ-kheo, người tinh cần tinh tấn sống đau khổ. Vì cớ sao? Vì pháp được vụng thuyết... Trong một pháp luật được khéo thuyết, này các Tỷ-kheo, ai sống tinh cần tinh tấn, người ấy sống an lạc. Vì cớ sao? Vì pháp được khéo thuyết”?

Tiên Nâu hào hứng tham gia:

_ Mình xin dẫn chứng một trường hợp vụng thuyết. Trong kinh Hoa Nghiêm Đại Thừa, phẩm Hạnh Nguyện Phổ Hiền Bồ-tát có nguyện thứ tám của Phổ Hiền như sau: thường học theo Phật là như đức Tỳ-lô-giá-na như lai của thế giới Sa bà này… lột da làm giấy, chẻ xương làm bút, chích huyết làm mực, sao chép kinh điển chất bằng núi Tu di, vì tôn trọng chánh pháp mà thân mạng còn không tiếc…” (1)Hừ, hy sinh kiểu này có hơn gì mấy con thiêu thân. Còn mấy kẻ khủng bố liều mình vì đạo cũng làm được.

Tiên Hoàng lắc đầu quầy quậy rồi mở laptop đọc to:

Còn nhiều nữa đây này, Bồ-tát giới của Đại Thừa còn ghi rõ rành rành thế này: “Giới khinh thứ 16: GIỚI VÌ LỢI MÀ GIẢNG PHÁP LỘN LẠO: Nếu Phật tử, phải tận tâm học kinh luật oai nghi Đại thừa, thông hiểu nghĩa lý, khi thấy có hàng tân học Bồ Tát từ xa trăm dặm nghìn dặm đến cầu học kinh luật Đại thừa, nên đúng như pháp giảng giải tất cả khổ hạnh, hoặc đốt thân, hoặc đốt cánh tay, đốt ngón tay. Nếu không đốt thân hay cánh tay, ngón tay cúng dường chư Phật thời không phải là hàng Bồ Tát xuất gia. Nhẫn đến xả thịt nơi thân cùng tay chân mà bố thí cho tất cả những cọp, sói, sư tử đói, cùng tất cả loài quỷ đói. Rồi sau mới tuần tự theo căn cơ của mỗi người giảng chánh pháp cho hàng tân học ấy được mở thông tâm ý. Nếu Phật tử vì quyền lợi, đáng dạy mà không dạy, lại giảng kinh luật một cách điên đảo, văn tự lộn xộn không có thứ lớp trước sau, thuyết pháp có tính cách hủy báng Tam Bảo. Phật tử nầy phạm «khinh cấu tội». (2) Đấy, kinh luật nào vụng thuyết hay khéo thuyết, Hiền trí hay ác trí, Đại tuệ hay tà tuệ, chân chánh hay không chân chánh, chánh tinh tấn hay tà tinh tấn, các bạn biết rõ cả rồi.

Tiên Hoàng vừa đọc xong, Tiên Ngọc liền lên tiếng:

_ Trời đất ơi! Kinh luật kiểu gì lại vụng thuyết, bất chánh và ác trí dại tuệ như thế chứ. Chỉ cần so sánh sơ sơ giữa hai loại kinh luật thôi cũng đủ thấy rõ đâu chánh đâu tà, đâu thắng đâu liệt. Ấy thế mà hàng ngàn năm qua dưới cõi Ta Bà người ta vẫn không hay biết gì cả. Nguy thật!

Tiên Ngà tâm đắc với bạn hiền:

_ Người ta không biết vì cả tin ngây thơ vào các tổ sư gián điệpMình xin góp ý thêm, để dứt khoát với tà kinh nguỵ luật, trong Pháp Luật chính thống được khéo thuyết, Đức Thế Tôn đã dạy rõ thế này: “Vô thỉ, này các Tỷ-kheo, là sự luân chuyển, khởi điểm không thể nêu rõ, đối với (những đau khổ) do bị thương đâm, do bị kiếm chém, do bị búa chặt. Dầu vậy đi chăng nữa, này các Tỷ-kheo, Ta cũng không tuyên bố rằng nhờ KHỔ VÀ ƯU mà Bốn Thánh Đế được chứng ngộ. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng nhờ LẠC VÀ HỶ mà Bốn Thánh Đế được chứng ngộ. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt (S.v,440).

Tiên Trắng ra vẻ ‘giác ngộ’ ý Tiên Ngà, liền gật gù:
_ Mình hiểu rồi. Đời đã quá khổ vì sanh-già-bệnh-chết giờ lại càng khổ thêm vì lột da làm giấy, chẻ xương làm bút, chích huyết làm mựcđốt thân, hoặc đốt cánh tay, đốt ngón tay.  Nhẫn đến xả thịt nơi thân cùng tay chân mà bố thí cho tất cả những cọp, sói, sư tử đói, cùng tất cả loài quỷ đói, thì giáo lý ấy cao siêu chỗ nào, diệt khổ cái nỗi gì. Chúng cứu khổ hay thêm khổ, từ bi hay xúi dại, tất cả đã rõ quá rồi. Chúng ta phải tránh xa thôi.
Tiên Tím chắp hai tay trước ngực, tiếp lời:
_ Tiên Trắng nói rất đúng. Theo lời Phật, chúng ta từ vô thỉ vô chung bị đau khổ, giờ gặp đúng giáo Pháp của Ngài, nhờ lạc và hỷ để giải thoát hoàn toàn, không hại mình, không hại người, lợi mình, lợi người, lợi cả hai, lợi toàn thế giới như vậy mới thực sự là Diệu Pháp, là Thánh Pháp, là Siêu Pháp của bậc Hiền trí, Đại tuệ; phải không các bạn?
Cả nhóm cùng hoan hỷ nhất trí với Tiên Tím và cùng chắp tay niệm lớn “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.
Tất cả cùng nhắc nhau phải cố gắng theo đúng lời Phật, tránh xa lời Ma, để thoát khổ ngay trong đời này, thoát khổ trong đời sau. 
Buổi thảo luận kết thúc trong sự hân hoan lợi ích.
Tiên Tri Đạo Sư
_____________
Ghi chú
(1) Bản dịch của HT Thích Trí Quang
(2) Bản dịch của HT Thích Trí Tịnh

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2016

Phổ Dại Bồ-tát


Trong Đại ngục A-tỳ, Ma vương ra lệnh cho các yêu tinh:
- Này các ngươi, hãy kiếm thêm nhiều ngục nhân nữa cho ta.
Đám tiểu yêu chắp tay:
- Xin tuân lệnh! Nhưng thưa ngài bằng cách nào ạ?
- Chúng bay lên ngay dương trần, giả làm Bồ-tát, phát nguyện đại xúi dại mấy kẻ cả tin thế này: thường học theo Phật là như đức Tỳ-lô-giá-na như lai của thế giới Sa bà này… lột da làm giấy, chẻ xương làm bút, chích huyết làm mực, sao chép kinh điển chất bằng núi Tu di, vì tôn trọng chánh pháp mà thân mạng còn không tiếc…” (*)
Một tiểu yêu chen ngang:
- Xưa rồi Diễm! Ngài quên rồi, nó chính là đại nguyện thứ tám của Bồ-tát Phổ hiền trong kinh Hoa Nghiêm mà trước đây ngài bảo chúng con tuyên truyền. Đám tội nhân tà tín còn sờ sờ cả đấy. Ngài hỏi chúng khắc biết.
- Thế à, để ta phát nguyện khác
Thư ký A Tỳ
---------------------
(*) Xem bản dịch Hoa Nghiêm của HT Thích Trí Quang
******
Pháp Trích Lục
* Trích Kinh Tương Ưng 4, số 330
Đức Phật dạy: ““Có hai cực đoan mà người xuất gia không nên thực hành: Một là say đắm dục lạc đối với các dục vọng hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích.
Hai là hành hạ tự thân, khổ đau, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích. Từ bỏ hai cực đoan này là con đường Trung Đạo, đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Thế nào là con đường Trung Đạo ấy, này Thôn trưởng, đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Ðây là con đường Thánh Đạo Tám Ngành, tức làChánh Tri Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh ĐịnhÐây là con đường Trung Đạo, này Thôn trưởng, được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn”
* Thừa tự Pháp trích lục
Đức Phật dạy như thế nhưng nhiều người con Phật lại ngây thơ nghe theo gián điệp giả sư để rồi theo nhau hành trì dục lạc, hoặc xúi nhau khổ hạnh huỷ thân một cách phi Thánh, phi mục đích.
Nhiều người cả tin theo các luận sư Bà-la-môn gián điệp nên rơi vào con đường ‘Trung Đạo’ giả danh của họ ‘không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm... vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo; vô trí diệc vô đắc...’.
Tất cả quay lưng với chính con đường Trung Đạo - Tám Chánh Đạochân chánh giải thoát của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Cho nên đau khổ cứ hoàn đau khổ, phiền não cứ hoàn phiền não. Đã thế khi mạng chung còn phải đọa vào địa ngục vì tà kiến, tà tín, tà hành.
Thật quá bất hạnh! Thật đáng thương vô cùng!
---------------------------
Bài liên quan
http://phatgiaodoinay.blogspot.com/2016/02/vu-khi-ai-thua.html

Chủ Nhật, 15 tháng 5, 2016

Từ bi một nửa, trí tuệ nửa vời


Một sinh viên khoa tôn giáo hỏi một đại sư Bà-la-môn:
_ Thưa ngài, có phải vì vô minh nên còn bị khổ đau bởi luân hồi sanh, già, bệnh, chết?
_ Đó là chân lý!
_ Nhưng tại sao các ngài lại thích tái sanh?
_ Vì lòng từ bi muốn cứu độ chúng sanh.
_ Liệu ngài có từ bi với mẹ mình và với chính mình?
Đại sư Bà-la-môn nhăn mặt:
_ Hỏi chi vặn vẹo?
Sinh viên chỉ vào kinh Tăng Chi đọc lớn:
_ Vì Đức Phật đã dạy rõ: “Ở đây, này Tỷ-kheo, Bậc Hiền trí, Ðại tuệ, không có nghĩ tự làm hại mình, không có nghĩ tự làm hại người, không có nghĩ tự mình làm hại cả hai, có suy nghĩ điều gì thời suy nghĩ lợi mình, lợi người, lợi cả hai, lợi toàn thể thế giới. Như vậy, này Tỷ-kheo, là Bậc Hiền trí, Ðại tuệ” (Tăng Chi II, tr. 159). Đức Phật ví khổ đau ở trong bào thai như mỗi ngày bị đánh ba trăm hèo. Bắt mẹ mình phải mang nặng đẻ đau để rồi chính mình cũng khổ đau vì sanh, già, chết; như vậy có trí tuệ không? Đã không có trí tuệ, làm sao cứu giúp cho người khác? Người không biết từ bi với mẹ mình và với chính mình liệu có biết từ bi với người khác? Sao các ngài không lo đào tạo thế hệ theo sau làm tiếp các công việc của mình như Đức Phật và các Thánh tăng A-la-hán để khỏi phải luân hồi, già chết?
Đại sư Bà-la-môn đánh trống lảng:
_ Ơ… có người cầu đạo dám chặt cả tay mình thì sao?
_ Thì vì cánh tay còn lại đã không biết “hiền trí đại tuệ” với cánh tay kia chứ sao! Đạo tà mới vậy!
Đại sư Bà-la-môn nhún vai im lặng quay lui.
Phó Sinh Viên
_____________________
Ghi chú
 ** Chủ trương nhập thai tái sanh của các Lạt Ma có đúng theo chủ trương của Đức Phật không? Hai trích đoạn kinh dưới đây là câu trả lời:
** Trích kinh Tướng Quân Sīha, Tăng Chi tập 3, Chương 8, II. Phẩm Lớn
“7) ... Và này Sīha, thế nào là pháp môn, do pháp môn ấy, nếu nói một cách chơn chánh về Ta, có thể nói: "Sa-môn Gotama là người chủ trương không nhập thai, thuyết pháp về không nhập thai và huấn luyện các đệ tử như vậy"?
Này Sīha, với ai đã đoạn tận sự nhập thai trong tương lai, sự tái sanh, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương laiTa tuyên bố người ấy là người chủ trương không nhập thai. Này Sīha, Như Lai đã đoạn tận sự nhập thai trong tương lai, sự tái sanh, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai.
Này Sīha, đây là pháp môn, do pháp môn ấy, nếu nói một cách chơn chánh về Ta, có thể nói: "Sa-môn Gotama là người chủ trương không nhập thai, thuyết pháp về không nhập thai và huấn luyện các đệ tử như vậy".
**Kinh Udaya (S.i,173)
“4) (Thế Tôn):
… Nhiều lần và nhiều lần,
Mệt sức và lao khổ.
Nhiều lần và nhiều lần,
Kẻ ngu nhập bào thai.
Nhiều lần và nhiều lần,
Lại sanh rồi lại chết.
Nhiều lần và nhiều lần,
Họ mang đến nghĩa địa.

Họ được đường giải thoát,
Không đưa đến tái sanh.
Bậc đại trí, đại tuệ,
Không sanh đi, sanh lại…
** Thế đấy, trong khi Đức Phật chủ trương không nhập thai giải thoát hoàn toàn, và nêu rõ kẻ ngu mới nhập bào thai sanh tử tới lui, thì các vị Mật Tông và Đại Thừa lại nghe theo các Tổ sư gốc Bà-la-môn chống lại Đức Thế Tôn, hô hào nguyện đại tái sanh. Các nghịch tử này không những không phải là Bậc Đại trí, Đại tuệ; mà còn phạm tội vô minh nữa.
Thật vậy, trong bài kinh Giáo Giới Channa, số 114, Trung Bộ 3, Đức Phật có nêu rõ điều này. Tại đây, vị Tỷ-kheo Channa trước lúc cận tử nghiệp đã chủ động dùng con dao (Tứ Thiền) để chấm dứt thọ hành của mình. Tôn giả Sariputta đã trình lại sự việc cho Đức Thế Tôn và có ý nói sự ra đi của ngài Channa là thiệt thòi cho các người thân và gia đình hộ độ cho ngài Channa. Các thí chủ ấy đã mất đi một vị chân tu giảng Pháp và một nguồn phước để họ cúng dường.
Dầu vậy, Đức Thế Tôn vẫn khẳng định Tỷ-kheo Channa không có lỗi khi ngài bỏ thân này và không còn tái sanh. Trái lại, những ai từ bỏ thân này lại chấp thủ tái sanh làm thân khác mới phạm tội. Các Đại Thừa sư và Mật Tông tăng nào còn nguyện dại tái sanh độ tha, hãy ghi nhớ kỹ lời dạy này của Đức Thế Tôn để không mang tội với Đức Phật, với chính mình, và với những ai tin mình:
-- Này Sariputta, có những gia đình ấy là những gia đình thân hữu, những gia đình hộ trì Tỷ-kheo Channa, những gia đình cần được viếng thăm. Này Sariputta, cho đến nay, Ta không nói rằng Tỷ-kheo Channa có phạm tội. Này Sariputta, ai quăng bỏ thân này, và chấp thủ thân khác, Ta nói rằng người ấy có phạm tội. Tỷ-kheo Channa không có (chấp thủ) như vậy. Tỷ-kheo Channa đem con dao lại (cho mình), không có phạm tội.” (Sđd)

--------------------------------
Bài liên quan

Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2016

Dại hành


Dại Nhân: _ Này Tiểu Thiên, chính ta được đọc trong kinh Tiểu Thừa Trung Bộ 3, bài kinh Hành Sanh, số 120, Đức Thế Tôn đã dạy: với những ai mong muốn sanh vào những nơi quyền quý như gia đình vua chúa, gia đình Bà-la-môn hoặc các cõi chư Thiên, nếu họ cứ “chuyên định tâm ấy, an trú tâm ấy, tu tập tâm ấy” thời cũng sẽ được toại nguyện. Ta một lòng tín-nguyện-hạnh về Tây Phương Cực Lạc, há chẳng theo lời Phật Thích Ca hay sao?
Tiểu Thiên: _ Nhưng trước đó Đức Thế Tôn đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng, vị ấy phải đầy đủ tín, đầy đủ giới, đầy đủ văn, đầy đủ thí, đầy đủ trí tuệ.Chánh pháp, chánh đạo muốn diệt khổ cũng phải tuân theo quy luật nhân quả như thế. Chỉ có tà pháp, tà đạo mới không tôn trọng luật nhân quả mà thôi.
Thử nghĩ mà xem, ông A buôn lậu ma túy, bà B bán hàng quốc cấm nên cả hai đâm ra lo sợ, nhưng nhờ tin và niệm “A mi tò phò” nên được an tâm khi hành sự và cứ như thế họ tiếp tục làm càn. Nếu khi họ mạng chung, theo đại nguyện của ông A Di Đà, nhất quyết họ cũng được thong dong vãng sanh tịnh độ, thế còn biết bao nạn nhân của họ thì sao? Như vậy còn gì là luật nhân quả, là công bằng, là nghiệp báo?
Dại Nhân: _ Nhưng riêng bản thân ta không làm điều gì xấu ác, chỉ chí tâm niệm hồng danh và một lòng nguyện sanh về miền Tây Phương để hưởng cảnh Lạc Cực. Ta cứ “chuyên định tâm ấy, an trú tâm ấy, tu tập tâm ấy” thời cũng được chứ sao, có gì trái với luật nhân quả?
Tiểu Thiên: _ Tất nhiên là được! Nhưng ông nên nhớ, nếu không có đầy đủchánh tín, chánh giới, chánh văn, chánh thí, chánh tuệ; nói chung không cóchánh công đức, chánh phước báo; thì coi chừng ông sẽ hưởng thọ sung sướng trong nguy hiểm.
Dại Nhân: _  Nguy hiểm thế nào và vì sao?
Tiểu Thiên: _  Bởi vì đối với các loài giòi bọ, côn trùng thời một đống phân hôi thối cũng là những hoàng cung, cung điện, thiên đàng, cực lạc của chúng chứ có thua gì ai? Chúng cũng cảm thấy sung sướng an lạc, cũng tắm mình trong cảnh “trời Tây” chứ có đau khổ gì đâu? Nếu ông có Thiên nhĩ thông, hẳn ông sẽ nghe tiếng chúng luôn miệng hót như chim Ca-lăng-tần-già: “Ôi sung sướng thay, hạnh phúc thay, tuyệt vời thay, kỳ diệu thay cõi hạnh phúc cực lạc là đây!”.
Dại Nhân: _ Nhưng pháp môn này do chính Đức Thế Tôn đã giới thiệu cho bà Vi-đề-hi kia mà?
Tiểu Thiên: _ Những kẻ gián điệp muốn phá đạo Phật không biết nói như thế hay sao? Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni không bao giờ giới thiệu một pháp môn phi pháp, phi luật, phi nhân quả, và đầy dẫy những phi lý, phi căn bản như thế.
Ông nên nhớ, ngay trong thời Đức Phật, ngay trong vùng Phật du hóa nhưng đã có những kẻ nham hiểm như Potaliputta, Sonakàyana, Sanjaya, Verañja, Lohicca, Paccaniikasàta, Pancasàlà, Vassakàra, Sangarava, Assalayana, Uttara, Vekhanassa, Magandiya, Niganthaputta Saccaka, Ambattha, Subha Todeyyaputta, Bà-la-môn ở Thùna… dám ngang nhiên giả danh Phật, giả lời Phật, hại đệ tử Phật. Có kẻ cũng ngụy trá nói với mọi người rằng đích thân họ được nghe chính Đức Thế Tôn dạy thế này, bảo thế kia để lường gạt mọi người bằng những tà pháp, tà niệm của họ.
Cho nên, ông cứ nhắm mắt tin rằng pháp môn Tịnh độ, xuất hiện sau thời Phật hàng trăm năm tại Trung Quốc, cũng chính là pháp môn được Phật Thích Ca tán thán, điều này chứng tỏ ông đã quá ngây thơ, cả tin đến độ mù quáng! 
Tóm lại, mong ông hãy “hồi đầu thị ngạn”, liệu chừng mà chánh tín, chánh giới, chánh văn, chánh thí, chánh tuệ. Chứ đừng tà tín – tà nguyện – tà hành.
Chánh Hành
---------------------------
Xem thêm 

Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2016

Mồ côi cha


Một nhóm trẻ mồ côi xứ Phi Châu tham gia chuyến du lịch “Lịch sử và tôn giáo”, đến một nước thuộc vùng châu Á. Tại một điểm tham quan, một em hỏi hướng dẫn viên du lịch:
_ Cung điện này tên gì?
Hướng dẫn viên phì cười:
_ Đây không phải cung điện, mà là chùa.
_ “Chùa” thuộc tôn giáo nào?
_ Phật giáo.
_ Bức tượng phanh ngực, phanh bụng, lòi rốn ở giữa sân là ai?
_ Phật Di Lặc.
_ Tượng bên hông?
_ Phật bà Quan Âm.
_ Tượng ngồi bên phải?
_ Phật Ngàn Mắt Ngàn Tay.
_ Ở bên trái?
_ Phật Dược Sư
_ Còn phía sau?
_ Phật Tỳ Lô Giá Na
_ Ba tượng lớn trong này?
_ Phật A Di Đà Tam Thế.
_ Sao có cả hai con khỉ cầm gậy?
_ Ấy chết, đó là hầu vương Tôn Hành Giả tức Đấu Chiến Thắng Phật và tổ Bồ Đề Đạt Ma, giống vậy thôi chứ không phải. Mô Phật, chớ có vô phân biệt!
Cả đám trẻ nhíu mày. Một em hỏi lớn:
_ Nghĩa là sao? Nếu phải phân biệt khỉ là khỉ, Tổ là Tổ; thì cũng phải phân biệt Phật là Phật, khỉ là khỉ chứ lẫn lộn lung tung làm sao được? Chẳng lẽ những người ở đây cũng muốn bọn em xếp trâu, bò, chó, mèo ngang hàng với họ ư? Chẳng lẽ họ cũng thờ cúng heo, lừa, dê, ngựa ngang hàng với ông bà, cha mẹ của họ hay sao? Cao siêu gì như vậy?
Lũ trẻ kháo nhau:
_ Siêu điên rồ thì có!
_ Họ bị phù thuỷ lường gạt rồi!
_ Xỏ mũi chứ!
Hướng dẫn viên im lặng gãi đầu gãi tai. Nhiều em trề môi lắc đầu tỏ vẻ chán nản. Em trưởng đoàn như chợt nhớ ra điều gì, vội hỏi giọng nghiêm trang:
_ Thế, vị nào sáng lập ra đạo Phật?
Hướng dẫn viên réo to như thoát nợ:
_ Phật Thích Ca Mâu Ni. Những người ở đây tự nhận mình là “Phật tử” và luôn miệng “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”, có nghĩa họ đều là con của Ngài.
Một giọng khác chen ngang:
_ Tượng của Ngài đâu?
 Hướng dẫn viên dáo dác nhìn quanh rồi lắc đầu:
_ Không thấy! Có lẽ do Phật Thích Ca vốn chán ghét cung vàng điện ngọc nên người ta đã không đưa Ngài vào đây.
Nghe vậy, bọn trẻ bỗng nhiên oà khóc nức nở. Hướng dẫn viên hoảng sợ:
_ Tại sao các em khóc?
_ Bọn em thấy tội nghiệp!
Hướng dẫn viên ngẹn ngào:
_ Tội nghiệp ai và vì sao?
Đám trẻ cùng chỉ vào trong, khóc rống:
_ Tội nghiệp những người ở đây, cũng như bọn em, có cha nhưng không biết mặt mũi cha mình thế nào. Đáng thương quá! Hu… hu… hu…
Theo Buddhism Magazine
________________
Ghi chú: Hình tượng ‘Bụt Ngàn Mắt Ngàn Tay’ của Đại Thừa giáo chính là hung thần Aj-jun của Bà-la-môn giáo, đã được các luận sư Bà-la-môn gián điệp cải trang đưa vào trong Phật giáo. Thật vậy, trong Chuyện Tiền thân Bhùridatta, số 543, Bà-la-môn Kànàrittha đã nêu rõ:
“119. Ku-ve-ra, So-ma, các thần,
Dhà-tà, Vi-dha, cùng trời, trăng,
Bao phen đã cử hành đàn tế,
Ban các La-môn mọi phước ân.

120. Aj-jun vĩ đại giáng tai ương,
Chi chít ngàn tay mọc khắp thân;
Mỗi cặp tay cầm cung dọa nạt,
Dâng thần Lửa lễ vật đầy tràn!”
Rõ ràng các luận sư Bà-la-môn gián điệp đã cải trang hung thần Aj-jun (thấp kém hơn cả thần lửa) của Bà-la-môn giáo thành Bụt Ngàn Tay Ngàn Mắt cho Đại Thừa để xỏ mũi những ai tin theo.
Cho nên rằng thì là các Phật tử Đại Thừa càng khoe khoang hình tượng ‘Bụt Ngàn Mắt Ngàn Tay’ của mình bao nhiêu, các ông Bà-la-môn hiện nay càng ngấm ngầm khinh chê họ bấy nhiêu. Hèn chi, qua bao đời những ông Bà-la-môn vẫn coi thường Phật giáo biến thái là phải!
Còn vì sao các gián điệp Bà-la-môn lại dựng thêm hình tượng Bụt bà Quan Âm trong Đại Thừa giáo? Vì trong Chánh Kinh Nikaya, Đức PhậtThích Ca đã dạy rõ một vị có chánh kiến là: “Vị ấy biết rõ rằng: "Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một nữ nhân có thể thành A-La-Hán, Chánh Ðẳng Giác. Sự kiện như vậy không có xảy ra". Và vị ấy biết rõ rằng: Sự kiện này có xảy ra: Khi một nam nhân có thể thành một A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sự kiện như vậy có xảy ra” (MN 115)
A La Hán Chánh Đẳng Giác chính là Đức Phật độc tôn. Vì thế những ai tin theo các Bà-la-môn gián điệp thừa nhận hình tượng “Phật bà” hoặc “Phật mẫu” là gánh lấy tà kiến mà không biết.
Bụt A-di-đà xuất hiện tại Trung Hoa hàng trăm năm sau khi Phật Thích Ca nhập diệt với 48 lời nguyện phi nhân quả, phi công lý: chỉ cần niệm danh Bụt dù kẻ diệt chủng, loạn luân dâm ác… cũng được cứu rỗi, còn nạn nhân lương thiện không niệm A-di-đà lại bị bỏ lờ sống chết mặc bay.
Kinh A-di-đà và luận ca ngợi A-di-đà do ai giới thiệu? Do Cưu Ma La Thập sống sau Phật cả chục thập kỷ. Chính Cưu Ma La Thập đã ngang nhiên phá giới nhận và loạn dâm với cả mười cung nữ từ vua Dao Tần ban cho. Tin tưởng theo một giáo lý phi lý trí và từ một tà sư như thế, quả thật là cuồng tín si mê.
Còn hình tượng ‘Bụt Di Lặc thế nào? Đây cũng là sản phẩm do các Bà-la-môn tung vào Phật giáo. Những ai không nhận thức sự thật này hãy thử hình dung một giáo đoàn sẽ như thế nào nếu tất cả từ Pháp chủ, Hoà thượng, Tăng Ni, sadi, sadini, nam nữ cư sĩ đều nhất loạt noi theo gương ông giáo chủ Di Lặc vô tư phanh ngực, phanh bụng, lòi rốn trước mắt bàn dân thiên hạ?
Một đứa con nít tám tuổi chỉ cần tưởng tượng một chút thôi cũng đủ biết cái Pháp hội mùa xuân Long Hoa của Đại Thừa giáo hấp dẫn, mê ly và trang nghiêm đến như thế nào!
Cần nói rõ thêm, trong kinh văn gốc (DN26)  nói đến Đức Phật Mettayya tương lai, thế nhưng trong hình dạng dung tục phồn thực như Di Lặc thì chỉ có con nít ba tuổi mới không biết đó là ý đồ nham hiểm của các Bà-la-môn gián điệp vẽ ra nhằm bôi nhọ, dung tục hóa hình ảnh Chư Phật. Ai tin theo đây cũng đồng nghĩa phỉ báng danh hiệu Phật, huỷ báng hình ảnh thiêng liêng của Chư Phật.
Thêm nữa, trong Kinh - Luật gốc, trong vòng sanh tử luân hồi vô thỉ vô chung, trước sau như một, chỉ có sáu Đức Phật quá khứ và một Đức Phật Thích Ca của kiếp hiện tại. Thế nhưng chỉ vài trăm năm sau khi Phật Thích Ca nhập diệt, các tổ sư gián điệp đã tầm thường hóa danh hiệu Phật bằng cách vẽ thêm cho Đại thừa giáo hàng chục ngàn vị Phật (kinh Vạn Phật), chúng sanh nào cũng có thể thành Phật vì ‘chúng sanh đồng Phật tánh’ (kinh Pháp Hoa) v.v…
Thậm chí kẻ vẽ ra “kinh 42 Chương” cho Đại thừa giáo còn ma mãnh phỉ báng danh vị Phật và xỏ mũi những ai tin theo khi phán rõ rành rành “Cho một ngàn ức vị Phật ba đời ăn không bằng cho một vị Vô niệm, Vô trụ, Vô tu, Vô chứng ăn” (Chương thứ 11)???
Thế đấy, ‘vị vô niệm, vô trụ, vô tu, vô chứng’ là ai, trong khi các ‘vị’ vô tâm vô tư ngoài đồng gặm cỏ có vị nào có niệm, có trụ, có tu, có chứng? Quái quỷ đến thế thì thôi! Khốn thay kinh 42 Chương của Đại thừa đã được vô tư truyền ‘dại’ qua hàng bao thế kỷ không một ai thắc mắc, không một lời cảnh báo.
Rõ ràng sự cả tin ngây thơ cũng là đồng bạn cho ma lừa phỉnh, quỷ gạt lừa xuống chín tầng địa ngục. Ai đó đã nói rất đúng ‘tôn giáo là ma túy của nhân loại’. Ở đây, Đại thừa giáo cũng là ma túy của những Đại thừa sinh! Các đệ tử Đại thừa tham ‘xe to, pháp lớn’ đợi đến khi nào mới chịu mở mắt ra đây?
Chính vì thế, trong kinh Nguyên thủy Tương Ưng, Đức Phật Thích Ca đã dạy rằng:
“Ví như, này Kassapa, vàng (thật) không biến mất khi nào vàng giả chưa hiện ra ở đời. Và này Kassapa, khi nào vàng giả hiện ra ở đời, thời vàng (thật) biến mất.
Cũng vậy, này Kassapa, diệu pháp không biến mất, khi nào tượng pháp chưa hiện ra ở đời. Và này Kassapa, khi nào tượng pháp hiện ra ở đời, thời diệu pháp biến mất.
Này Kassapa, địa giới không làm Diệu pháp biến mất, thủy giới không làm Diệu pháp biến mất, hỏa giới không làm Diệu pháp biến mất, phong giới không làm Diệu pháp biến mất.
Ở đây, khi nào các người ngu có mặt, chính họ làm Diệu pháp biến mất (S.ii,223).
Thật vậy, Phật thật không biến mất khi nào Bụt giả chưa hiện ra ở đời; và khi nào Bụt giả hiện ra ở đời, thời Phật (thật) biến mất.
Vì sao? Vì chỉ có ác ngu si mới lộng giả thành chân, mới dựng tà phá chánh; và cũng chỉ có thậm ngu si mới nghe sao tin vậy, không biết phân biệt đúng sai, thật giả, chánh tà. Hai thứ ngu này hợp lại; Diệu Pháp của bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác làm sao còn được!
Đã đến lúc si mê phải trả về cho si mê, vàng thật phải trả về cho Đạo Phật!
-----------------------
Xem thêm

Thứ Năm, 12 tháng 5, 2016

Bác giới 'khen mình, chê người' của Bồ-tát giới


Nguyên văn giới trọng thứ 7 của Bồ-tát giới: 
“- GIỚI TỰ KHEN MÌNH CHÊ NGƯỜI
Nếu Phật tử, tự khen mình chê người, cũng bảo người khác khen ngợi mình chê người: nhân chê người, duyên chê người, cách thức chê người, nghiệp chê người. Là Phật tử, lẽ ra phải thay thế chịu những sự khinh chê khổ nhục cho tất cả chúng sanhmình nhận lấy việc xấu, nhường cho người việc tốt. Nếu Phật tử tự phô trương tài đức của mình, mà dìm che điều hay tốt của người, làm cho người bị khinh chê, Phật tử nầy phạm «Bồ Tát Ba La Di tội».”
Phản bác
Chiếu theo giới này thì những kẻ bắt chước kinh văn mới, khen ngợi mình là Đại Thừa, lên mặt chê bai những kẻ Nguyên Thuỷ Nhị Thừa, đều phạm tội Ba-la-di thứ bảy.
Những ai rao giảng kinh Kim Cang với những câu “…giáo pháp Đại Thừa, nói cho những người đi theo giáo pháp Đại Thừa tối thượng… bởi vì những ai ưa pháp Tiểu Thừa, vẫn còn ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả” (đoạn 25), đây là tội ‘khen mình, chê người’. Chiếu theo Bồ-tát giới phạm Ba-la-di phải bị tẩn xuất khỏi chùa!
Những ai tu thiền Tông tự xưng ‘tối thượng thừa thiền” và khinh miệt thiền Nguyên thủy là ‘phàm phu thiền, tiểu thừa thiền’, là thứ ‘chồi khô mộng lép, tiêu nha bại chủng’… những người này đã khen mình, chê người, phạm Ba-la-di của Bồ-tát giới, phải bị tẩn xuất khỏi chùa!
Những ai rao giảng Pháp hoa, tán dương Đại thừa là cỗ xe lớn, còn Tiểu thừa chỉ là cỗ xe nhỏ, kém cỏi. Đây là tội ‘khen mình, chê người’, chiếu theo Bồ-tát giới cũng phạm Ba-la-di, phải bị tẩn xuất.
Ngay cả những ai thọ Bồ-tát giới này và thực hành theo các giới tôn vinh Đại thừa, coi khinh Tiểu thừa chẳng khác gì ngoại học, tà kiến, như các giới trọng thứ 6, giới khinh thứ 8, 15, 24 v.v…; nhũng người này cũng phạm tội ‘khen mình, chê người’, phải bị Ba-la-di, tẩn xuất khỏi chùa!
Nguy hiểm hơn nữa, nếu những người này tin theo các tổ sư Bà-la-môn gián điệp tiếp tục chia rẽ Đạo Phật thành Đại Thừa và Tiểu Thừa, khen ngợi ăn chay theo truyền thống Bà-la-môn giáo, khinh thường lối ăn ‘tam tịnh nhục’ của Phật giáo Nguyên Thuỷ, gây cảnh kì thị hơn thua chia rẽ trong Tăng đoàn; đây là tội phá hoà hợp Tăng, tất khó tránh khỏi địa ngục Vô gián.
Mọi người hãy đọc kĩ các kinh - luật - luận Đại Thừa và cả Bồ-tát giới này để xem có đầy dẫy tội khen Đại Thừa chê Tiểu Thừa không? Có đầy dẫy những cái bẫy gây phân hoá Tăng đoàn Đạo Phật không?
Mọi người phải đọc kĩ vì những tổ sư gián điệp chống phá Đạo Phật rất tinh ma. Họ cũng biết giả lời Phật, khéo léo ngụy trá vinh danh Phật vài câu để mọi người lầm tin chúng là kinh sách Phật giáo, sau đó họ mới ma mãnh cài vào những tà pháp, tà luật chống trái ngược lại với tinh thần Kinh Luật gốc.
Chỉ có những ai giới hạnh thanh tịnh, tỉnh giác thận trọng mới có thể phát hiện ra những thủ đoạn thâm độc kiểu này. Và chỉ có những ai có đủ sức mạnh trí tuệ mới vượt qua được bóng ma của các ‘Bồ-tát gián điệp’ để lên tiếng tố cáo.
Xét ngay nơi giới luật này cũng thấy rõ. Tại sao ‘Là Phật tử, lẽ ra phải thay thế chịu những sự khinh chê khổ nhục cho tất cả chúng sanh, mình nhận lấy việc xấu, nhường cho người việc tốt’? Con Phật Thích Ca chứ có phải những con vật tế thần đâu mà phải ‘thay thế chịu những sự khinh chê khổ nhục cho tất cả chúng sanh’?
Những kẻ sát nhân, trộm cướp, hiếp dâm gây bao điều xấu ác, bị thế gian khinh chê khổ nhục, các Phật tử phải giơ đầu chịu báng thay cho các chúng sanh này hay sao? Phải nhận lấy việc xấu từ họ ư? Chẳng lẽ việc tốt ít lắm sao lại phải nhường nhau? Tại sao Bồ-tát giới không biết dạy Bồ-tát con nỗ lực làm tốt hơn và khuyến khích mọi người gắng làm tốt nữa, lại vơ lấy cái xấu từ người khác?
Những kẻ ác cứ ác, giết cứ giết, hiếp cứ hiếp, các Bồ-tát con cứ nhận lấy việc xấu của chúng, chịu thay mọi khinh chê khổ nhục, liệu thế gian có tốt đẹp được không hay khốn khổ vẫn hoàn khốn khổ? Thi ân vô trí kiểu này có khác gì những hạng ‘anh hùng rơm’?
Trên đời có bốn hạng người:
1. Làm hại mình, hại người.
2. Làm hại mình, nhưng lợi người.
3. Làm lợi mình, nhưng hại người.
4. Không hại mình, không hại người; lợi mình, lợi người, lợi cả hai, lợi toàn thế giới.
Trong bốn hạng người trên, ai là người hiền trí nhất, cao quý nhất? Hẳn là hạng người thứ tư. Khốn thay, những kẻ vẽ ra Bồ-tát giới và những ai tin theo ngụy giới này đã không nhận thức được những giá trị trên để hướng đến. Trái lại họ chỉ ‘dại’ nhau sẵn sàng làm hại mình, lợi người ‘phải thay thế chịu những sự khinh chê khổ nhục cho tất cả chúng sanh, mình nhận lấy việc xấu, nhường cho người việc tốt’.
Anh hùng rơm kiểu này có hơn gì mấy con cá cắn câu, mấy con chim mắc bẫy? Chúng cũng đang chịu những sự khinh chê khốn khổ cho người khác hưởng lạc đấy chứ? Chúng cũng đang nhận lấy việc xấu ác, nhường cho con người món tốt lành chứ có thua gì các Bồ-tát Đại Thừa?
Cho nên mới có thơ rằng:
Cá, chim đệ nhất từ bi
Cắm đầu hại mạng, gan lì lợi tha.
Bao đời theo với ác ma
Quẩn quanh tà đạo, biệt xa cõi lành.
Tập San Luật Học
------------------
Bài liên quan